Việc học không bao giờ được coi là đủ, vì nó như dòng nước trên nguồn chảy mãi ra biển khơi, người thì biết hứng lấy nước tưới cho cây tri thức thêm xanh, kẻ chỉ biết lấy nước rửa ráy dung nhan bên ngoài bằng những tấm bằng cấp. Muốn học thì phải có trường, và không ngôi trường nào đầy đủ, sinh động, chân chính và cay đắng hơn ngôi trường này: Trường Đời...

Đồng tiền

Tháng Mười Một 7, 2011 3 comments

Đọc bài văn lạ của cậu học trò nghèo trường Amsterdam:

Trước đề văn nghị luận Nêu quan điểm của anh (chị) về vai trò của đồng tiền trong cuộc sống”, em Nguyễn Trung Hiếu, HS lớp 11 chuyên lý, Trường THPT chuyên Hà Nội-Amsterdam đã lấy ngay câu chuyện thật đang phải trải qua của gia đình mình để nhìn nhận, phân tích vai trò của đồng tiền.

Thư gửi mẹ.

Mẹ thân yêu của con !

“Trời ơi là trời ! Anh ăn đi cho tôi nhờ, đừng có nhịn ăn sáng nữa. Đừng có dở hơi đi tiết kiệm mấy đồng bạc lẻ thế, anh tưởng rằng thiếu tiền như thế thì tôi chết à ?”. Đó là những “điệp khúc” mẹ cất lên hàng ngày dạo gần đây vì con quyết định nhịn ăn sáng đi học để tiết kiệm chút tiền cho mẹ, cho gia đình. Có lúc mẹ còn gắt lên, hỏi con “Sao cứ phải đắn đo khổ sở về tiền đến thế nhỉ ?” .

Mẹ ơi, những lúc ấy mẹ đang giận nên con không dám cãi lại. Nhưng giờ đây con muốn được bày tỏ lòng mình rằng tại sao con lại có những suy nghĩ, hành động kì lạ như vậy. Vâng, tất cả là vì tiền. Chỉ đến tận bây giờ con mới nhận ra cả một quãng thời gian dài trước đó con đã non nớt, ngây thơ biết chừng nào khi nghĩ về tiền. Cách đây 8 năm bệnh viện đã chuẩn đoán mẹ bị suy thận mãn tính độ 4 (độ cao nhất về suy thận). 8 năm rồi nhà ta đã sống trong túng thiếu bần hàn, vì bố mẹ không kiếm được nhiều tiền lại phải dành tiền cho mẹ đi chạy thận. Nhưng bố mẹ vẫn cho con tất cả những gì có thể, và cậu bé học trò như con cứ vô tư đâu biết lo gì.

Hồi học tiểu học, tiền bạc đối với con là một cái gì đó rất nhỏ, nó là những tờ giấy với đủ màu có thể dùng để mua cái bánh, cái kẹo, gói xôi hay cái bánh mì … Con đâu có ngờ tiền chính là yếu tố quyết định sinh mạng mẹ mình, là thứ bố mẹ phải hàng ngày chắt bóp và bao người thân gom góp lại để trả cho từng ca lọc máu cho mẹ tại bệnh viện Bạch Mai, là thứ càng làm mẹ thêm đau đầu suy nghĩ khi mẹ buộc phải nghỉ việc làm vì điều kiện sức khỏe không cho phép.

Rồi đến khi con học lớp 8, mẹ càng ngày càng yếu và mệt, phải tăng từ 2 lên 3 lần lọc máu/ tuần. Những chỗ chích ven tay của mẹ sưng to như hai quả trứng gà, nhiều hôm máu thấm ướt đẫm cả tấm băng gạc. Do ảnh hưởng từ suy thận mà mẹ còn bị thêm viêm phổi và suy tim. Rồi ông lại bị ốm nặng, bố phải nghỉ việc ở nhà trông ông, nhà mình vì thế càng trở nên túng quẫn, mà càng túng thì càng khổ hơn. Tờ một trăm ngàn hồi ấy là một thứ gì đó xa xỉ với nhà mình. Cũng từ dạo ấy, đầu óc non nớt của con mới dần vỡ lẽ ra rằng tiền bạc chính là mồ hôi, nước mắt, là máu (theo đúng nghĩa đen của nó, vì có tiền mới được chạy thận lọc máu mà) và bao nỗi niềm trăn trở lo lắng của bố và mẹ.

Hôm trước con có hỏi quan điểm của mẹ về tiền bạc thế nào để con có thêm ý viết bài làm văn nghị luận cô giao. Mẹ hơi ngạc nhiên vì câu hỏi đường đột ấy. Rồi mẹ chỉ trả lời với 3 từ gọn lỏn “Mẹ ghét tiền”. Nếu con còn thơ dại như ngày nào, hay như một người ngoài nào khác thì chắc con đã ngạc nhiên lắm. Nhưng giờ đây con cũng đồng ý với mẹ : con cũng ghét tiền. Bởi vì nó mà mẹ phải mệt mỏi rã rời sau mỗi lần đi chạy thận. Mẹ chạy thận 3 lần mỗi tuần, trước đây bố đưa đón mẹ bằng xe đạp nhưng rồi mẹ bảo đi thế khổ cả hai người mà còn phải chờ đợi mất ngày mất buổi của bố nữa nên mẹ chuyển sang đi xe ôm. Nhưng đi xe ôm mất mỗi ngày mấy chục, tốn tiền mà lại chẳng kiếm đâu ra, mẹ quyết định đi xe buýt. Mỗi khi về nhà, mẹ thở hổn hển, mẹ lăn ra giường lịm đi không nói được câu gì. Con và bố cũng biết là lúc ấy không nên hỏi chuyện mà nên để yên cho mẹ nghỉ ngơi. Tám năm rồi, tám năm chứng kiến cảnh ấy nhưng con vẫn chưa bao giờ có thể quen được. Con chỉ biết đứng từ xa nhìn mẹ, và nghiến răng ước “giá như có dăm chục ngàn cho mẹ đi xe ôm thì đâu đến nỗi !”.

Con bỗng ghét, thù đồng tiền. Con bỗng nhớ hồi trước, khi mẹ vẫn nằm trong viện. Ba người bệnh chen chúc chung nhau một chiếc giường nhỏ trong căn phòng bệnh ngột ngạt và quá tải của bệnh viện Bạch Mai. Con đã ngây thơ hỏi mẹ “Sao mẹ không vào phòng bên kia, ở đấy mỗi người một giường thoải mái lại có quạt chạy vù vù, có tivi nữa ?”. Mẹ chỉ nói khẽ “cha tổ anh. Đấy là phòng dịch vụ con ạ”. Con lúc ấy chẳng hiểu gì. Nhưng rồi con cũng vỡ lẽ ra rằng đó là phòng mà chỉ những ai rủng rỉnh tiền thì mới được vào mà thôi. Còn như mẹ thì không được. Con căm nghét đồng tiền vì thế.

Con còn sợ đồng tiền nữa. Mẹ hiểu con không ? Con sợ nó vì sợ mất mẹ. Mẹ đã phải bốn lần đi cấp cứu rồi. Những người suy thận lâu có nguy cơ tử vong cao vì huyết áp dễ tăng, máu dồn vào dễ làm tắc ống khí quản và gây tắc thở. Mẹ thừa biết điều này. Nhiều người bạn mẹ quen trong “xóm chạy thận” đã phải chịu những cái kết bi thảm như thế. Nhiều đêm con bỗng choàng tỉnh dậy, mồ hôi đầm đìa mà lạnh toát sống lưng bởi vừa trải qua một cơn ác mộng tồi tệ …

Con sợ mẹ lại phải đi cấp cứu, và sợ nhỡ nhà mình không đủ tiền để nộp viện phí thì con sẽ mất đi người thân yêu nhất trong cuộc đời này. Mỗi buổi mẹ đi chạy thận là mỗi buổi cả bố và con đều phấp phỏng, bồn chồn, lo lắng. Mẹ về muộn là lòng con nóng như lửa đốt, còn bố thì cứ đi đi lại lại và luôn hỏi “bao giờ mẹ mày mới về?”. Với con cơ hội là 50/50, hoặc là mẹ chạy thận an toàn và về nhà, hoặc là …

Con lo sợ hơn khi đọc báo thấy bảo có người không đủ tiền trả phần ít ỏi chỉ là 5% bảo hiểm y tế, tiền thuốc men mà phải về quê “tự điều trị”. Với những bệnh nhân phải chạy thận, như thế đồng nghĩa là nhận bản án tử hình, không còn đường sống. Con bỗng hoảng sợ tự hỏi nếu không còn BHYT nữa thì sao? Và nếu ông mất thì sao? Chi tiêu hàng ngày nhà mình giờ đây phần nhiều trông chờ vào tiền lương hưu của ông, mà ông thì đã già quá rồi …

Mẹ ơi, tiền quan trọng đến thế nào với gia đình mình thì chắc mẹ hiểu rõ hơn con. Cứ nghĩ đến tiền là con lại nhớ đến những đêm bố mất ngủ đến rạc cả người, nhớ đến những vết chích ven sưng to như quả trứng gà của mẹ, nhớ đến cả thìa đường pha cốc nước nóng con mang cho mẹ để mẹ uống bồi bổ mỗi tối. Mẹ chắt chiu đến mức sữa ông thọ rẻ tiền mà cũng không mua để tự bồi dưỡng sức khỏe cho mình.

Con sợ tiền mà lại muốn có tiền. Con ghét tiền mà lại quý tiền nữa mẹ ạ. Con quý tiền và tôn trọng tiền bởi con luôn biết ơn những người hảo tâm đã giúp nhà mình. Từ những nhà sư tốt bụng mời mẹ đến chùa vào cuối tuần, những cô bác ở Hội chữ thập đỏ quyên góp tiền giúp mẹ và gia đình mình. Và cả những người bạn xung quanh con, dù chưa giúp gì được về vật chất, tiền bạc nhưng luôn quan tâm hỏi thăm sức khỏe của mẹ… Nhờ họ mà con cảm thấy ấm lòng hơn, vững tin hơn.

Con cảm thấy bất lực ghê gớm và rất cắn rứt lương tâm khi mẹ không đồng ý với các kế hoạch của con. Đã có lúc con đòi đi lao động, đi làm gia sư hay đi bán bánh mì “tam giác” như mấy anh sinh viên con quen để kiếm tiền giúp mẹ nhưng mẹ cứ gạt phăng đi. Mẹ cứ một mực “tống” con đến trường và bảo mẹ chỉ cần con học giỏi thôi, con giỏi thì mẹ sẽ khỏe.

Vâng, con xin nghe lời mẹ. Con vẫn đến trường. Con sẽ cố gắng học thật giỏi để mẹ và bố vui lòng. Nhưng mẹ hãy để con giúp mẹ, con đã nghĩ kĩ rồi, không làm gì thêm được thì con sẽ nhịn ăn sáng để tiết kiệm tiền. Không bán bánh mì được thì con sẽ ăn cơm với muối vừng. Mẹ đừng lo mẹ ạ, mẹ hãy an tâm chạy chữa và chăm sóc cho bản thân mình. Hãy để con được chia sẻ sự túng thiếu tiền bạc cùng bố mẹ. Vậy con khẩn thiết xin mẹ đừng cằn nhằn la mắng con khi con nhịn ăn sáng. Mẹ đừng cấm đoán con khi con đi lấy chầy, cối để giã lạc vừng. Dù con đã sút 8 cân so với năm ngoái nhưng con tin rằng với sự thấu hiểu lẫn nhau giữa những người trong gia đình thì nhà ta vẫn có thể sống yên ổn để đồng tiền không thể đóng vai trò cốt yếu trong việc quyết định hạnh phúc nữa.

Đứa con ngốc nghếch của mẹ

Nguyễn Trung Hiếu

Chuyên mục:Sưu tầm

Cánh buồm đã mở

Tháng Chín 30, 2010 Để lại bình luận

TT – Tin về nhóm nhà giáo Cánh buồm biên soạn và ra mắt bộ sách giáo khoa mới thu hút sự quan tâm đặc biệt của những người đang trăn trở với sự nghiệp giáo dục VN. Đặc biệt quan tâm vì nhiều lẽ.

Ý tưởng lớn của nhóm muốn biến triết lý “đi học là hạnh phúc” từ khẩu hiệu lâu nay thành hiện thực. “Đi học là hạnh phúc” từ lâu đã là tâm nguyện của những ai đi học và mong được học suốt đời, là mơ ước của các bậc cha mẹ ngày ngày phải giúp con học một cách nhọc nhằn, phải đưa đón con “chạy sô” học thêm mệt lả.

Nếu biến khẩu hiệu “đi học là hạnh phúc” thành hiện thực cho tuyệt đại đa số học sinh tiểu học cả nước để các cháu cảm nhận trên thực tế hạnh phúc lớn lao của việc học thì đó sẽ là sự đóng góp vô giá cho giáo dục VN đang hướng đến xây dựng một xã hội học tập, học tập suốt đời. Ngày nay dốt vì không có điều kiện đi học đã không còn là trở ngại không thể vượt qua đối với tuyệt đại đa số trẻ em nước ta. Dốt vì chán học, vì thấy học là việc vô bổ, là việc khổ sai mới là nguyên nhân rất phổ biến khiến trẻ em bỏ học, khiến người lớn ngại học nâng cao hiểu biết của mình.

Ý tưởng của nhóm “học gắn với hành”, với hiện tượng quan sát được và cách thức giải quyết vấn đề trong thực tế tuy không mới nhưng lâu nay chưa được thực thi hữu hiệu khiến học sinh không biết cách tự phát hiện vấn đề, tự đề ra bài toán từ cuộc sống mà chỉ biết nói giỏi kiểu thuộc lòng, kể cả nói đạo đức giỏi để rồi không làm vì không biết cách làm hay hờ hững vì không muốn làm.

Cũng cần ghi nhận lòng nhiệt thành, sự tin tưởng của cha mẹ học sinh cho con theo học chương trình Cánh buồm là làn gió thổi cho cánh buồm tiến lên. Tấm lòng này vô cùng đáng trân trọng nhưng phải được nuôi dưỡng, củng cố bằng cơ chế – đó là một trường thực nghiệm mà nhóm đang cần. Giai đoạn đầu mới “giong buồm” thì còn được nhưng lâu dài đã “ra khơi” rồi thì không thể. Nhà nước phải làm “bà đỡ” trong việc này.

Nhóm cũng có ý tưởng thay đổi cấu trúc và mục tiêu từng bậc học, từ 5 + 4 + 3 + đại học(?) hiện nay thành 8 + (2+2) + (học nghề/ đại học). Ở lớp 1 khi mới bắt đầu vào học thì sự tương đồng của chương trình Cánh buồm và chương trình của bộ hiện nay về mục tiêu cụ thể là rất lớn: biết đọc, biết viết, biết làm toán, biết cư xử. Khác nhau chăng là phương pháp.

Song càng lên lớp trên thì sự khác biệt về mục tiêu từng lớp, từng cấp sẽ càng rõ rệt và đến một lúc nào đó, học sinh sẽ không thể chuyển từ một chương trình này qua một chương trình khác. Khi đó, chương trình chính thống dù có khuyết nhược điểm gì cũng cứ chiếm ưu thế, chương trình Cánh buồm dù có ưu điểm gì cũng bị thất thế và rất có thể bị “chết một cách anh hùng”.

Rõ ràng, trước yêu cầu bức thiết của xã hội muốn giáo dục phải đổi mới, phải cải cách sâu rộng thì việc thống nhất cấu trúc, mục tiêu của chương trình học, đề ra một chương trình chuẩn cho mỗi bậc học là việc chỉ có thể do Nhà nước làm, mà phải làm sớm. Có những thứ đó rồi thì sách giáo khoa, số năm của từng bậc học, phương pháp dạy… có thể đua nở.

Cuối cùng, nghiên cứu và triển khai một dự án lớn tầm cỡ chiến lược này mà chưa có một sự ủng hộ, tài trợ nào là điều khiến người ngoài cuộc phải ray rứt mà đặt câu hỏi: Vì sao chỉ cần nghiên cứu một dự án về một công trình nào đó (khai mỏ, xây dựng một công trình cầu đường hay công trình “phi vật thể”…) là nhóm nghiên cứu dự án đã có thể được “duyệt” nhiều nghìn tỉ đồng, thậm chí nhiều hơn từ Nhà nước hay nguồn khác, trong khi dự án này lại bị bỏ quên như vậy?

Dự án của nhóm Cánh buồm là một dự án khoa học nghiêm túc do những nhà sư phạm tâm huyết và đầy lòng tự trọng thực hiện, hơn nữa là dự án nghiên cứu và triển khai về giáo dục con người, mức ảnh hưởng tốt xấu nếu có, còn lớn lao và lâu dài hơn mọi đường sắt cao tốc nên rất xứng đáng nhận được sự quan tâm cụ thể của Bộ GD-ĐT và Chính phủ.

TS HỒ THIỆU HÙNG

(trích từ Tuoitreonline)

Chuyên mục:Sưu tầm

Chuyện học hành và thi cử ngày xưa

Tháng Chín 2, 2010 Để lại bình luận

hochanh Mấy ngày nay ở trên này làm việc mà lòng như lửa đốt, cứ muốn về nhà nhưng công việc khá nhiều, lại họp hành lung tung nên không về được, chẳng qua là vì con Út đi thi tú tài, đứa cuối cùng trong nhà làm thủ tục chia tay với cấp học phổ thông để bước vào đường đời. Biết rằng cái kỳ thi này cũng không đến nỗi căng lắm, vì họ dành sự căng thẳng chọn lọc ấy cho kỳ thi đại học chứ không phải tốt nghiệp, song mình vẫn cứ lo, chẳng biết giúp con được gì, khuyên con được gì, gọi điện về thì nó ngúng nguẩy bảo rằng ba ơi, ba đừng có lo nữa mà, mà quả thực vậy, cái tuổi teen ấy của chúng nó không muốn người lớn quan tâm hỏi han nhiều, chúng muốn được lớn, được tự mình làm thôi, do vậy mà mình im luôn, cứ phó mặc cho niềm tin và bản lãnh của con cái để nó tự sức vượt qua là tốt rồi, mình có về nó cũng không thích.

Nói đến đây lại nhớ tới chuyện thi cử ngày xưa trước 75, đối với anh em chúng tôi thì thi cử ngày ấy quả thực rất căng thẳng và quan trọng, bởi vì cái bằng cấp tú tài ngày ấy rất giá trị, có yếu tố sàng lọc người giỏi chứ không phải chỉ hình thức chiếu lệ cho qua, do vậy mà thí sinh phải học thật tình, thi nghiêm túc để giành lấy mảnh bằng bước vào đời. Áp lực đè lên vai và trong tâm tưởng, nhất là đối với những bạn nam, thời ấy là thời chiến nên 18 tuổi là độ tuổi quân dịch, nếu thi rớt thì anh phải đi lính, phải vào quân trường ngay chứ không mô tê gì cả. Cũng vì thế mà Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên ngày ấy viết trong bài Thà như giọt mưa do Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc:

Ta hỏng tú tài,
Ta hụt tình yêu
Thi hỏng mất rồi
Ta đợi ngày đi…
Ông viết đúng lắm đấy, hỏng tú tài, e rằng người yêu cũng chia tay ta luôn chứ chẳng chơi, hỏng tú tài, chuẩn bị khăn gói lên đường vào quân trường chứ không còn được tiếp tục mài đũng quần trên ghế nhà trường đâu.

Thực sự mà nói thì thi cử ngày ấy công bằng hơn bây giờ rất nhiều, không có cái chuyện chấm lỏng tay hay nâng điểm để giành những con số tỉ lệ đậu tròn trĩnh như bây giờ đâu, theo như tôi biết thì suốt một thời gian dài tại miền Nam trước 75, tỉ lệ đậu tú tài toàn quốc chưa bao giờ đạt tới con số 70%. Có người cho rằng sự khắt khe như thế là bất công, nhưng không phải, anh muốn đậu tú tài thì anh phải học đàng hoàng, thi đàng hoàng, và anh phải khá giỏi để anh có đủ năng lực vào thẳng đại học mà không cần phải thi thêm một lần nữa. Còn nếu anh học lơ mơ thì việc anh thi rớt phải đi lính thì đó là chuyện của anh. Ngày trước nữa thì chia làm hai cấp, hai lần thi: hết lớp 11 thì thi Tú tài bán phần, hết lớp 12 thì thi Tú tài toàn phần, nhiều người gọi tắt là Tú tài toàn là vậy, về sau chỉ thi một kỳ cuối cấp 12 mà thôi, và gọi là Tú tài Phổ thông.

Đậu tú tài, anh có nhiều lựa chọn, nếu muốn thì anh có thể thi vào một số trường bây giờ ta nôm na gọi là top như Đại học Y khoa, Dược khoa, Kiến Trúc, Kỹ sư Phú Thọ (Bách khoa bây giờ), Sư Phạm và Quốc gia Hành chánh, còn nếu không thì anh không cần thi, ghi danh trực tiếp vào các trường Đại học Khoa học, Văn khoa, Luật khoa và một số trường Đại học Tư thục khác như Đại học Minh Đức, Vạn Hạnh… Không cần thi vì họ nghĩ bằng Tú tài của anh đã được chọn lọc rồi thì anh có đủ sức học đại học, nghĩa là họ đánh giá cao cái bằng tú tài anh đang có, do đó mà ngày xưa, thi đậu tú tài, có nghĩa là anh thi đậu đại học, nhưng đừng tưởng rằng cứ việc vào đại học là xong đâu, vì học đại học là nơi chọn lọc và đào thải rất căng, vào thì dễ nhưng muốn tốt nghiệp thì vô cùng khó khăn, 10 người vào thì ra được 5 mà thôi, hoàn toàn khác với quan niệm bây giờ, vào khó nhưng ra thì dễ. Bởi vậy mà những ai tốt nghiệp đại học ngày xưa khi ra trường thì các nơi nhận vào làm ngay, vì họ học thật sự, giỏi thật sự.

Nhưng đó là chuyện đại học, còn chúng ta đang nói chuyện thi cử mà. Tú tài ngày xưa thi hết tất cả các môn học, nên bạn phải học đều thì mới mong đậu được, từ các môn Toán, Lý, Hóa, Triết (thay cho môn Văn, vì môn Văn đến lớp 11 là đã coi như học xong rồi), Sử, Địa, Sinh ngữ 1, Sinh ngữ 2, Công dân, Vạn vật (bây giờ gọi là Sinh học) tất cả đều thi. Cũng cần nói rõ thêm một tí để một vài bạn trẻ ngày nay biết ngày xưa chúng tôi học như thế nào. Ngày xưa ở miền Nam, khi vào lớp 10, gọi là Trung học đệ nhị cấp, thì chúng tôi phải học phân ban, đại khái như chuyên ban bây giờ vậy, phân ban là để bắt đầu hình thành khả năng chuyên biệt của mỗi người tạo thế mạnh trong thi cử và học tập, có 4 ban là:

A: Khoa học Thực nghiệm, học sinh ban này chuyên về Vạn vật (Sinh học), Lý, Hóa, mỗi môn thi có hệ số 4, nghĩa là khi đi thi, nếu anh có điểm cao các môn này sẽ rất lợi thế cho anh, bù điểm lại cho các môn yếu hơn. Ban này anh sẽ học Vạn vật nhiều và chi tiết hơn, vì sau này anh mới có đủ khả năng thi vào Đại học Y khoa chẳng hạn. Ban A vẫn phải học Toán (hệ số 2), nhưng ít chuyên sâu hơn, nếu tôi nhớ không lầm thì lớp 12 chỉ học Hình học Giải tích và Tân toán học mà thôi.
B: Khoa học Toán, chuyên về Toán, Lý, Hóa trong đó Toán có hệ số 5 và Lý Hóa hệ số 4, nếu anh giỏi các môn này thì anh sẽ rất thuận lợi khi thi cử, nhưng để kiếm điểm cao cũng không phải dễ, vì ngoài môn Lý Hóa ban A và B như nhau thì môn Toán ban B rất nặng, bao gồm Giải tích, Hình học giải tích, Hình học không gian và cả Hình học phẳng, Tân toán học. Nói chung kiếm điểm Toán ban B thì phải thật là cố gắng và đam mê môn Toán. Tốt nghiệp Tú tài ban B, anh có thể thi vào Kỹ sư Phú Thọ, Kiến trúc hoặc Sư phạm chứ không vào Y khoa được.
C: Khoa học Văn chương, chuyên về Văn, Triết học và Sinh ngữ.
D: Cổ ngữ, chuyên biệt về các môn tiếng Hán, tiếng La tinh…

Bốn ban nhưng hầu hết học sinh chuyên về ban A và B, còn C thì rất ít nơi đào tạo và D thì rất cá biệt, chỉ các trường dòng bên Tôn giáo chuyên những ngành này.

Chuyện đáng nói ở đây là hệ số và Sinh ngữ (ngày nay người ta gọi là Ngoại ngữ). Việc nhân hệ số khuyến khích và dẫn đường cho học sinh tạo kỹ năng chuyên biệt ngay từ lúc còn học phổ thông, để định hướng lên đại học sau này chứ không cào bằng, nếu bạn giỏi Văn và theo ban C từ lớp 10, bạn sẽ được học chương trình Văn và Ngoại ngữ nâng cao để bạn có thể phát triển về sau, đi thi bạn sẽ có hệ số cao, lợi thế hơn các môn khác. Ban A và ban B cũng vậy, mỗi ban có chuyên ngành riêng và được đào tạo kỹ lưỡng hơn các môn học khác. Còn chuyện Sinh ngữ, khi vào lớp 10, bạn phải học thêm sinh ngữ thứ nhì, nếu sinh ngữ chính của bạn là tiếng Anh thì bạn phải học thêm tiếng Pháp làm sinh ngữ 2 và ngược lại, cách học này tạo cho một tú tài tương lai phải toàn diện, ít ra sau khi tốt nghiệp tú tài, tiếng Anh biết đã đành, nhưng tiếng Pháp cũng phải biết đọc và giao tiếp đôi chút vì bạn cũng đã có 3 năm học sinh ngữ 2 rồi…

Có người lại bảo, tại sao lớp 12 môn Văn lại không có? Thưa rằng nếu bạn chọn ban C thì Văn các bạn sẽ học bù đầu ấy chứ, nhưng ban A và B thì không, vì chương trình Văn hồi ấy đã học rất bao quát ngay từ lớp 6, thuần về Văn học chứ không lẫn chính trị hoặc tuyên truyền trong đó. Tôi nói như thế là vì chúng tôi tuy ở miền Nam, nhưng vẫn học các Tác giả ở miền Bắc, biết rằng đất nước chia đôi, hai miền hai ý thức hệ, nhưng văn chương đứng trên tất cả mà không phân biệt Cộng sản hay Quốc gia. Cái đặc trưng của nền giáo dục miền Nam ngày xưa là như thế đó. Văn học rất bao quát cho nên đến năm 11 là coi như đã học xong môn Văn chương, vì từ lớp 6, bạn đã bắt đầu học Bà Huyện thanh Quan rồi dần dà lên từng cấp nào là Chinh phụ ngâm, bắt đầu quen với các thể thơ Đường luật, tứ tuyệt cùng các tác giả khác như Cao Bá Quát, Trần Tế Xương, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Công Trứ với những bài hát nói, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến… rồi sang năm lớp 9 bắt đầu vào Truyện Kiều, sang năm 11 lại học Kiều chuyên sâu hơn, ngoài hình thức Cổ văn là các tác giả tôi vừa nêu, hồi đó học thêm Giảng văn bao gồm các nhà văn cả hai miền không phân biệt Nam Bắc, mấy chục năm qua rồi tôi không nhớ hết được, nhưng rõ ràng cái cách giáo dục ngày xưa nó quy củ và thực dụng lắm, cho nên không ít người khi ra trường đời vẫn nhớ lại những gì mình đã học như những hành trang rất quý giá cho một con người là vậy. Đến lớp 12 thì ban A và B phải học Triết, bao gồm Luận lý học, Đạo đức học và Tâm lý học, tức là suy luận về văn chương và xã hội ở một mức cao hơn về nhận thức, để chuẩn bị những kiến thức sẽ được đào tạo chuyên sâu về sau này trên Đại học.

Thôi thì hôm nay khó ngủ, nhớ và lo cho con gái Út đang thi nên viết đôi dòng nhớ lại cái sự học và thi cử ngày xưa vậy. Hôm nào có thời gian lại viết tiếp… Chúc con gái Út làm bài tốt nhé!

Chuyên mục:Sưu tầm

Ngày tháng nào…

Tháng Năm 6, 2010 Để lại bình luận

saigon2 Mới đó mà nay đã hơn hai tháng xa quê, hai tháng xa hàng cây xanh ngát bên đường trước hiên nhà, xa chùm mận mới trĩu trái hồng và ngọt trước sân, xa khu vườn phía sau rợp bóng mát chân quê, sầu riêng đang mùa ra trái. Mùa này, có lẽ chỉ một mình em ra nhặt mỗi sáng, nhanh chân thì còn, không thì kẻ trộm thanh toán trước, ăn lấy sầu riêng giùm mình, lúc đó ta không còn sầu riêng nữa mà chỉ còn vui chung.

Mới đó mà hơn hai tháng không đi lễ nhà thờ mỗi sáng sớm cùng em, có lẽ thân cò cũng quen giờ thức dậy sớm lặng lẽ đi một mình. Hai tháng chưa đủ ngủ quên giấc sáng, vẫn giật mình lôm côm ngồi dậy mở máy, lúc thì soạn nhạc, lúc thì viết blog bên tách cà phê thơm lừng, thành phố giấc sáng vẫn yên bình không kém gì thôn quê, có lẽ dân tình quen kiểu dậy trễ, đi làm trễ, riêng mình thì cái phút giây sáng sớm ấy thật quý và thật thích, viết lách lung tung xong, nhắn tin cho em vài dòng, một ngày mới đầy tràn niềm vui mới, chiều đi làm về đi lễ nhà thờ bù cho buổi sáng ở quê.

Hai tháng qua rất mau vì công việc cuốn hút, vẫn chạy đều, vẫn xoay chung với cái vòng đời. Từ trên lầu nhìn xuống, hôm nào cũng thấy ông cụ ngồi xe lăn bán vé số, sáng ra ngồi xếp vé, buổi trưa có lẽ ông cụ buồn ngủ quá nên ôm cái túi tiền gục mặt vào bàn vé số ngủ say sưa, có lẽ ai nấy cũng thương ông cụ nên không bị lấy cắp vé. Hai tháng nhìn xuống sân lúc nào cũng thấy chiếc môtô của mình phơi nắng, tại chiếc xe của mình dài quá đưa vào mái thì choán hết lối đi, đành phải để vậy, thử sức với nắng Sài Gòn xem chịu nổi không cho biết.

Hai tháng với hai cô học trò hiền lành chịu khó và ba em khác đang chờ kịch bản, chỉ mong các cháu thành tài thay cho chú, lúc đó chú sẽ không thèm vẽ truyện nữa đâu, xách môtô chở madame đi dọc đường đất nước với cái giá vẽ và cái laptop, hy vọng nơi đó có wifi, cháu có ước mơ, chú cũng có mơ ước, đơn giản thế thôi mà. Hai tháng với nhí nhố họp hành và với những ly cà phê sữa đá ngán ngẩm, với chị biên tập, với anh nhà văn, nhà báo và cả nhà láo, nổ còn hơn đại bác, nhưng muốn nổ cỡ nào cũng được, miễn sao có kịp kịch bản để công việc vẽ trôi chảy là OK thôi.

Hai tháng với cái màn hình lúc nào cũng ở trước mặt, dâm thư hở ngực lưng trần bầu bì tạp nhạp ngày nào cũng đầy dẫy trên cái mặt bằng đáng sợ của văn hóa hôm nay, chuyện tào lao và giả dối nhiều đến chóng mặt, chuyện cần biết thì nói bâng quơ hoặc nín tịt, lại phải mon men ra ngoài để biết thêm đôi điều, giá như cái vốn ngoại ngữ của mình khá một tí thì đỡ quá, nhờ anh Gúgờ dịch thì ảnh cứ thế mà làm, mình cứ thế mà đọc kiểu nào cũng được, nhưng nhờ đó mà cũng biết được lem nhem đôi điều.

Hai tháng với những hoài niệm xót xa đến chạnh lòng trong những ngày nghỉ lễ, chạnh lòng là vì ngày ấy ba mươi lăm năm trước đây, chính mình chứng kiến, có giết được tên đế quốc hay thực dân nào đâu, chỉ thấy người Việt chúng ta giết nhau để giành lấy… vinh quang, một triệu người hể hả trên nước mắt của một triệu người khác ngậm ngùi. Giá như nên quên đi, mở rộng bàn tay hòa hợp hòa giải với nhau để chung tay xây dựng đất nước thì hơn.

Hai tháng với các anh bảo vệ ngày nào cũng dang nắng giữ xe, giữ của, với chị công nhân vệ sinh ham đánh số đề, trúng được một lần nên ngày nào cũng hỏi chú Năm hôm qua mơ thấy gì. Hai tháng với đồng nghiệp vừa nhí nhảnh vừa tào lao, người đang mống chuồn người lại có vợ lẻ, chỉ ăn nói loạn xà bần cho vui thôi chứ rất tình cảm và rất chân thật, họ gọi mình là vị… cha già của phòng chứ không phải của dân tộc đâu. Hai tháng với những ổ gà trên con đường quen thuộc đi làm mỗi sáng, quán bún này, gánh cháo nọ, nhà hàng kia cũng bắt đầu quen dần, nhưng vẫn nhớ bát canh nóng của vợ hơn tất cả, rồi hai tuần lại về, lại nhâm nhi bát canh mình thích bên người yêu thương.

Và hai tháng với công việc bộn bề nên những entry trên blóc ít hơn, còmmen ít hơn, vì chẳng qua ngoài công việc ở văn phòng, chiều tối về nhà còn phải làm thêm một số việc cho khách hàng khác để khỏi bị thúc hối, khỏi bị chửi và cũng có thể kiếm thêm tí tiền còm trả tiền điện, anh con trai mới tặng cho cái máy lạnh thì mình phải lo mà trả tiền điện chứ. Nói thế chứ làm sao mà quên blóc được, vì mỗi ngày đi làm, nhìn anh bảo vệ đứng giữ cửa, nhìn cô em tiếp thị lúc nào cũng đứng bên cửa hàng dược phẩm (chắc là mỏi chân lắm), nhìn chị gánh bán hủ tiếu xào hay hủ tiếu chay gì đó ngày nào cũng nhìn khách qua đường với ánh mắt mời mọc thấy mà tội, nhìn cặp vợ chồng bán mì gõ với hai đứa con vào đại học, nhìn cả gia đình chị bán bánh mì bên kia đường một mẹ và bốn đứa con trai cùng bán, nhìn hoàn cảnh cô học trò có cha sang Mỹ lấy vợ khác bỏ bốn mẹ con ở lại, đứa nào cũng vào đại học, nhìn anh chàng đang bán đồ la dọc đường… và biết bao cái nhìn khác có thể viết hàng trăm entries được, nhưng làm sao có được thời gian, trong lúc nó cứ qua đi trên vai ta lạnh lùng và êm đềm, khi nhìn lại thì đúng như Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói: đời đã xanh rêu…

Trẻ vẫn cho là tuổi xanh, già cũng thấy màu xanh của rêu, trong tim vẫn là màu xanh của hy vọng, của ước mơ, để sau này không phải thấy những xót xa ray rứt của cuộc đời trên blóc, mà thấy trên đó những điều vui, những nụ cười, cho quên ngày tháng nào đó đang qua đi…

Chuyên mục:Sưu tầm

Chuyện chữ nghĩa

Tháng Mười 27, 2009 Để lại bình luận

chunghia Khoảng đầu thập niên 80, lúc đó mới giải phóng được năm bảy năm gì đó, tình hình dân cư ở nhiều địa phương nước ta có nơi còn rất là tăm tối, nhất là các vùng cứ địa cách mạng và vùng kinh tế mới, nơi chúng tôi về sinh sống, lắm người lập gia đình đã lâu mà vẫn chưa biết chữ, bởi thế mà bọn sinh viên gãy gánh như chúng tôi coi vậy chứ nhiều khi cũng có giá lắm đấy, nào là đi dạy bình dân học vụ nè, nào là đi điều tra dân số, hiến pháp, làm tổ bầu cử v.v… chứ thời ấy ai mà làm cho? Thậm chí ông chủ tịch xã chỉ biết giữ cái con mộc đỏ chói và ký tên mà thôi, chỉ chỗ nào ký chỗ ấy, đọc thì đánh vần từng chữ thấy mà tội nghiệp, nhưng cái bề dày cách mạng vào sinh ra tử thì chẳng ai bằng. Thời ấy hầu như địa phương nào cũng thế.
Nói vậy để biết rằng cái sự học nhiều khi cũng rất có lợi, và cũng có lúc sơ sẩy một chút thôi vẫn rất có hại, hại cho cái dân tình khốn khổ mù chữ này. Tôi vẫn nhớ vào buổi sập tối hôm đó, vừa thắp ngọn đèn dầu lên thì có một chị công nhân hơn tôi khoảng năm bảy tuổi gì đó, tay cầm cái tờ giấy carô cuốn tròn mua ngoài chợ đến gặp tôi. Tôi mời chị vào nhà và vặn bấc đèn lên một chút cho sáng. Trời ạ! Mặt chị sưng húp, tím bầm nhiều chỗ nhưng cũng vẫn cố giữ vẻ thản nhiên, miệng thì lẩm bẩm chửi thề nguyền rủa ai đó.
– Có chuyện gì mà căng thẳng vậy chị? – Tôi hỏi.
– Mẹ nó chớ! – Chị nghiến răng: – Tao chịu hết nổi rồi Lân ơi! Chồng con như cục đếch họ, bao nhiêu năm nay tao nhịn nhục quá rồi, bây giờ không thể nào chịu nổi nữa…
– Chị nói sao? Ảnh đánh chị à?
Không trả lời, chị xòe tờ giấy carô ra trước mặt tôi:
– Mẹ nó chớ, lần này thì dứt khoát! Tao dứt khoát rồi…

Read more…

Chuyên mục:Sưu tầm

Thực tại và Chữ nghĩa

Tháng Mười 23, 2009 Để lại bình luận

loingo1 Đầu thập niên 90′, thấy madame nhà mình viết lách ì xèo được xuất bản hết bộ này bộ nọ nên mình ngứa tay, cũng tập tành viết lách một thời gian, ngày vẽ đêm viết, ấy thế mà mình cũng được in 4 cuốn kể mới lạ chứ: Cuối cùng cho một tình yêu, Cho người yêu dấu, Trái tim cô đơn và Lưới nhện, trong đó cuốn Cho người yêu dấu mình thích nhất sau khi nhận sách tác giả về đem tặng người này người kia, cho mượn lung tung rốt cuộc đến nay không còn lưu lại được bản nào, tiếc ơi là tiếc! Kể lại không phải để khoe hàng đâu nhé, vì mấy truyện này văn chương bình dân, tâm lý xã hội chứ chẳng phải văn chương bác học gì, ấy thế mà một thằng khô khốc như mình cũng kham được thì quả thật mèo khen mèo dài đuôi, madame mình là phụ nữ nên trí tưởng tượng phong phú hơn nhiều, thường bà ấy viết một bộ hai cuốn, còn mình thì mỗi tựa một cuốn 300 trang cũng đã là bở hơi tai, vì đối với một tên dở hơi và cực đoan như mình, thực tại và chữ nghĩa nó khó sóng đôi quá, y như anh chàng đội mũ lệch, hở một mảng đầu, cái hở ấy là cái ba xạo mà trí tưởng tượng con người thường chêm vào cuộc đời cho cay đắng ngậm ngùi, cho sướt mướt tỉ tê, cho đê mê và ba que xỏ lá.

Thường thì mấy cuốn tiểu thuyết tôi viết, ngoài nước mắt ra, tôi hay đưa yếu tố hình sự vào cho giật gân, đương nhiên yếu tố mùi mẫn là phải có rồi, nhưng với một mức độ nào đó cho phép, vì thời ấy mới đổi mới được vài năm, kiểm duyệt cũng khá khắt khe chứ không như ngày nay. Ấy thế mà bây giờ nghĩ lại, cái mức độ mùi mẫn ấy chẳng biết mình đào ở đâu ra hay thiệt, yêu ót tay ba tay tư rồi khóc lóc than van, tủi hờn và tê tái tự dưng nó ở đâu ùa về khiến mình viết rất nhanh, có đêm viết tới hơn 15 trang giấy học trò… Nay già rồi, ngồi ngẫm nghĩ lại thấy nó tếu và cải lương chi lạ, thỉnh thoảng lôi ra đọc cười muốn sặc gân cổ luôn á. Chẳng hiểu vì sao thực tại nó có thế bao giờ đâu, thế mà chữ nghĩa nó cứ làm y như thiệt, nhiều người chẳng bao giờ tin tôi đâu, ngay cả anh Tổng Biên tập Đoàn Tấn Hướng ngày xưa cũng bảo rằng tôi ba xạo, ảnh còn khuyên tôi bỏ nghề vẽ mà theo nghề viết đi. Tôi chỉ nốc rượu cười hề hề mặc anh, làm cho ảnh bán tín bán nghi cho vui thôi chứ cái thằng tôi xuề xòa lắm, rồi có khi họ cho rằng cái vỏ xuề xòa bên ngoài chỉ giả vờ che đậy những thứ khủng khiếp xấu xa bên trong không chừng, tôi cũng không quan tâm, vì cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, đâu có gì phải ngán, viết cho vui và cũng để kiếm cơm qua ngày chứ mình đâu có ham gì tên với tuổi. Mãi về sau bận vẽ mấy bộ truyện tranh gấp quá nên tôi ngưng viết từ đó đến nay.

Xét cho cùng thì thực tại và chữ nghĩa tuy có sự tương quan về diễn đạt, nhưng tôi dám cá là chẳng nhà văn nào dại dột đưa hết sự thực, đưa lưng mình ra cho thiên hạ dòm đâu, ngay cả Henri Charrière là tác giả cuốn Papillon – Người Tù Khổ Sai khi phóng viên hỏi có bao nhiêu sự thật trong cuốn tiểu thuyết của ông, ông chỉ cười khì mà nói rằng, bạn nghĩ sao thì nghĩ, nếu nó thực quá thì còn gì là tiểu thuyết?

Chữ nghĩa ngày nay lắm khi tôi phát sợ, tiểu thuyết hầu như muốn ăn khách lại phải đưa những yếu tố tính dục vào cho thật nhiều, lắm khi khai thác quá mức khiến đọc qua thấy rùng mình vì sự sống sượng của chữ nghĩa và cái sền sệt bát nháo của văn học thị trường, người ta lợi dụng chữ nghĩa để kiếm danh và kiếm tiền. Trước giải phóng vẫn có một dòng tiểu thuyết gọi là tiểu thuyết lá cải, nhưng cái lá cải ấy cũng không phải dễ kiếm đâu nhé, thời ấy có Bà Tùng Long, Bà Lan Phương, Lã Phi Khanh… là những cây bút hàng đầu trong dòng văn học bình dân này, tuy nhiên xin đừng coi thường vì chính Nhà văn Nguyễn Đông Thức bây giờ cũng hân hạnh và tự hào khi anh chính là con của Bà Tùng Long đấy nhé. Cái hay của dòng tiểu thuyết ấy là không cần văn chương bác học gì, tác giả cũng vẫn có thể đưa người xem đến những tình tiết thú vị và gần gũi, người xem như bị cuốn hút vào chính cuộc đời mình, mong đọc cho hết trang này để mở sang trang khác, đó chính là sự thành công của người viết, biết dùng chữ nghĩa với thực tại tạo thành dựa trên sự tưởng tượng phong phú mà có. Lá cải mà được như thế thì chắc gì văn chương bác học để mãi trên kệ sách hơn thua chi nhau?

Nhưng thôi, bàn về vấn đề này không chỉ đơn giản vài chục entry đâu, người ta nghiên cứu bạc đầu chưa chắc đã hết, mình chỉ thấy chút ít thực tại nên ngứa ngáy, muốn dùng chữ nghĩa viết ra đôi điều cho vui thôi chứ không dám múa may gì… Có điều bây giờ nghĩ lại, sao ngày xưa mình không thử liều một phen nhỉ? Biết đâu ngày xưa có Bà Lan Phương, ngày nay có Bà Lân Phương thì sao ta? Có lẽ Bà Lân Phương này hơi bị xạo rồi… Xin đừng tin nhé!

Chuyên mục:Sưu tầm

Quốc khánh Trung quốc

Tháng Mười 1, 2009 Để lại bình luận

(trích từ blogosin)

Hôm nay, trong cái ngày mà Bắc Kinh gọi là quốc khánh, chắc chắn chính quyền Trung Quốc chỉ nói về sự trỗi dậy suốt hơn hai thập niên qua và những đích đến phỉnh nịnh cơn thèm khát của nhiều người dân mộng bá quyền Đại Hán. Mao Chủ Tịch vẫn cười tủm tỉm trước cửa Thiên An Môn. Sáu mươi năm trước Mao đã thắng trong một cuộc chiến “da thịt tàn nhau”, đuổi Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan. Người dân Trung Quốc được dạy đấy là công lao. Nhưng, rồi nhiều người trong số họ cay đắng nhận ra đó là ngày Mao bắt đầu biến Đại Lục thành địa ngục. Sau đây là những thông tin lấy từ cuốn Mao Trạch Đông Ngàn Năm Công Tội, được viết bởi một nhà nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện quân sự cấp cao Trung Quốc, đại tá Tân Tử Lăng.

Đại tá Tân Tử Lăng viết: “Mọi sai lầm lớn của Mao như giết hại công thần, gây bè phái trong đảng, bám chặt lấy chế độ lãnh đạo suốt đời và gia đình trị, dung túng phe đảng Giang Thanh, đều thuộc thuật cầm quyền của vua chúa”. Nhưng, cho dù lịch sử Trung Hoa có không ít hôn quân, có lẽ không một thiết chế nào trước đó cho phép một con người có thể táng tận như Mao tồn tại. Tháng 8-1958 khi cả nước mới chỉ sản xuất được 4,5 triệu tấn thép, Mao ra lệnh năm ấy phải nâng sản lượng thép lên 11 triệu tấn. Mao nói: “Phải chuyên chế, phải kết hợp giữa Karl Marx và Tần Thuỷ Hoàng”. Có lẽ không có nhà lãnh đạo quốc gia nào như Mao, ra lệnh “gom phế liệu và tháo dỡ cả đường sắt để đúc thép nhằm hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng”.

Cho dù các con số sắt thép làm ra chỉ là những báo cáo dối trá, việc huy động những người khoẻ mạnh đi làm “gang thép” đã khiến cho thóc lúa hư hỏng ngoài đồng không có người thu hoạch. Ở huyện Tỉnh Nghiên, Tứ Xuyên, năm 1959, vào lúc đói kém nhất, bình quân mỗi ngày một người chỉ được phân phối 100 gam lương thực; cứ 8 người dân, có một người chết đói. Sau gang thép, Mao phát động cao trào “đại tiến vọt” lần hai. Ngày 3-9-1958, Mao tuyên bố: “Sản lượng lương thực có thể tăng lên 370 triệu tấn, gấp 2 lần năm ngoái. Nếu năm 1959 lại tăng gấp 2 lần thì sản lượng lương thực sẽ là 750 triệu tấn”. Khi các địa phương báo lên sản lượng lương thực không những tăng mà còn xấu hơn, Mao sợ bẽ mặt bèn cho rằng ‘lương thực bị giấu bớt” rồi hăm: “Phải tiến hành một đợt giáo dục kiên quyết”. Để quán triệt tinh thần kiên quyết của Mao, Khu uỷ Tín Dương, tỉnh Hà Nam tập họp 6.000 người để đấu tố 60 người “giấu bớt lương thực” không nộp cho nhà nước. Nhưng, chính những người đi dự hôm ấy cũng đang không có lương ăn, một người chết đói tại chỗ, 19 người chết trên đường về nhà. Trên tinh thần ấy, tỉnh Hà Nam dù thu hoạch 9,75 triệu tấn vẫn báo cáo lên 22,5 triệu tấn. Năm 1959, trên toàn quốc, theo báo cáo: 270 triệu tấn lương thực, thực tế chỉ có 170 triệu tấn; năm 1960 giảm còn 143 triệu tấn.

Theo đại tá Tân Tử Lăng, mùa xuân 1960 nạn đói tràn lan, có làng 80 ngày người dân không có một hạt gạo vào bụng, vậy mà Bí thư Khu uỷ Tín Dương vẫn lên giọng: “Không phải thiếu lương thực, 90% là vấn đề tư tưởng”. Trước đó, khi Bí thư tỉnh uỷ An Huy Trương Khải Phong cho giải tán 4.000 nhà ăn tập thể vì không còn lương thực, Mao phê vào báo cáo: “Trương Khải Phong đứng trên lập trường giai cấp tư sản, mưu toan phá hoại nền chuyên chính vô sản”. Khu uỷ Tín Dương sau đó lại càng “chuyên chính” hơn, phong toả,  không cho dân chúng ra khỏi làng. Theo tài liệu do Bộ Chính trị Trung Quốc “giải mật” sau này, những năm ấy Tín Dương có hơn một triệu người chết đói. Trịnh Đại Quân, một cán bộ Ban Công tác nông thôn huyện Sùng Khánh kể rằng, một đội sản xuất có 82 hộ, chỉ trong một năm, từ tháng 12-1959 đến 11-1960 có 48 bé gái 7 tuổi trở xuống bị người lớn làm thịt, chiếm 90% số bé gái cùng độ tuổi. Trịnh Đại Quân kể, người ta phát hiện ra vụ ăn thịt trẻ em đầu tiên do toán điều tra nhìn thấy “một làn khói mỏng toả ra từ mái nhà bần nông Mạc Nhị Oa”. Họ bao vây, vu hồi, rồi đồng loạt nhảy vào: “Nhà Nhị Oa 8 nhân khẩu, đã chết đói 2, nhưng chỉ còn lại 5. Bé gái Thụ Tài đang bị luộc trong nồi. Trong lúc tổ tuần tra tìm dây trói can phạm, Nhị Oa và mấy đứa con lao vào cướp thịt Thụ Tài nhai ngấu nghiến”. Nạn ăn thịt trẻ con sau đó còn lan ra: “Kẻ nhẫn tâm thì ăn thịt con ngay tại nhà mình. Kẻ mềm yếu hơn thì gạt nước mắt đổi con với hàng xóm”… Nạn đói có thể không tới mức như vậy nếu như tháng 6-1959 mặc dù tình hình lương thực giảm, Mao vẫn quyết định xuất khẩu 4,19 triệu tấn để lấy vàng và đô la. Theo số liệu chính thức do Bộ Chính trị Trung Quốc giải mật tháng 9-2005, sau 4 năm Mao phát động “cao trào xã hội chủ nghĩa ở nông thôn” có tới 37,55 triệu người chết đói.

Nhưng, “đói” chưa phải là bi kịch lớn nhất của người Trung Quốc. Ngày 30-4-1957, Mao gặp đại diện trí thức, động viên góp ý cho Đảng, giúp sửa chữa sai lầm. Mục tiêu của Mao là dùng đại hội này để xác lập vị trí lãnh đạo tư tưởng của mình trong giới trí thức, nhưng tình hình diễn biến không như Mao trông đợi. La Long Cơ, Bộ trưởng Lâm Nghiệp, lãnh tụ của giới trí thức từ Âu- Mỹ trở về phát biểu rằng: “Tiểu trí thức chủ nghĩa Marx- Lenin lãnh đạo đại trí thức của giai cấp tiểu tư sản là người mù chỉ đường cho người sáng mắt”. Mao nổi giận. Một mặt vẫn cho thảo luận để “dụ rắn ra khỏi hang”. Một mặt, dựng lên “Vụ án chống đảng”. Theo thống kê của Trung Quốc, có 552.877 trí thức là nạn nhân của “vụ án” do Mao lập ra này.

Nhưng, Cách mạng văn hoá mới là trung tâm của địa ngục. Cuộc Cách mạng do những thanh niên bị kích động được gọi là Hồng vệ binh, chỉ riêng hạ tuần tháng 8-1966, khi mới bắt đầu, “nội thành Bắc Kinh đã có hàng ngàn người bị đập chết tươi. Nhiều người khi ấy được chứng kiến những cuộc tắm máu, những kiểu giết người man rợ thời trung cổ”. Cả nước có 10 triệu gia đình bị lục soát. Sinh viên sư phạm Bắc Kinh kéo về Sơn Đông “san bằng” mộ Khổng Tử. Lăng mộ Hạng Vũ, Gia Cát Lượng, Ngô Thừa Ân… cũng bị đập phá. Ngay đến một người bạn chiến đấu của Mao, đang là Chủ tịch Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, ông Lưu Thiếu Kỳ, cũng bị Mao bỏ mặc cho Hồng vệ binh tàn sát. Năm ấy ông Lưu đã 69 tuổi, tay bị thương khi cùng Mao chiến tranh, tận mắt chứng kiến vợ là Vương Quang Mỹ bị bắt giam; ba người con đang tuổi đi học bị đưa vào trường thẩm tra; bé út 6 tuổi phải theo bảo mẫu ra khỏi Trung Nam Hải. Ông Lưu, bị giam ngay trong phòng Chủ tịch Nước, với 7 cái răng còn lại, cơm ăn thì thường là thiu, ông bị tiêu chảy, lại không thể thay quần áo, trong phòng hôi nồng. Đã thế, ngày nào cũng bị đấu tố, hạ nhục rồi bị lưu đày cho đến khi chết đau đớn hơn cả một kẻ ăn mày. Cuộc Cách mạng văn hoá kéo dài 10 năm đã lấy thêm sinh mạng của gần 20 triệu người dân Trung Quốc.

Đại tá Tân Tử Lăng giải thích: Thoạt đầu Mao làm “đại tiến vọt” để đưa Trung Quốc vượt qua các nước phương Tây hòng làm ‘lãnh tụ thế giới”. Khi thất bại, dẫn tới cái chết của hàng chục triệu dân thì Mao lại làm tất cả mọi việc để hòng che đậy những sai lầm ấy. Đại tá cho rằng: “Không có sai lầm của đại tiến vọt thì không có đại cách mạng văn hoá để bức hại Lưu Thiếu Kỳ, gạt bỏ Lâm Bưu, phế truất Đặng Tiểu Bình… nhằm đưa Giang Thanh lên nắm quyền”. Theo Đại tá: “ Mao truyền ngôi cho Giang Thanh là bất đắc dĩ. Nhưng, Mao cần có hai thế hệ: Giang Thanh và Mao Viễn Tân, đủ để viết lại lịch sử, chối phắt trách nhiệm làm 37,55 triệu người chết đói”.

Cuốn sách mô tả rất chi tiết những mưu mô của Mao. Nhưng, đại tá Tân Tử Lăng cho rằng nếu như người dân có tiếng nói, các thiết chế đảng và nhà nước có tiếng nói, những người có lương tri nói lên sự thật với Mao không bị quy kết là “chống Đảng” thì Mao không thể gây ra những tội ác đau thương cho nhân dân, cho đồng chí của mình như thế. Thật cay đắng khi theo đại tá Tân tử Lăng, chỉ khi “vị cứu tinh” chết đi nhân dân Trung Quốc mới có đường để sống. Những cải cách mà Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đặng Tiểu Bình khởi xướng là thực hiện lại một phần những gì mà người dân Trung Hoa đã có từ trước ngày 1-10-1949. Đại tá Tân Tử Lăng lý giải: “Chỉ cần trả lại quyền lợi và tự do cho nhân dân, tự họ sẽ lựa chọn con đường phát triển và sáng tạo tương lai xán lạn”.

Cuốn sách được xuất bản tháng 7-2007 và tái bản tháng 6-2008 tại Hong Kong, nhưng đã gây chú ý đặc biệt và gây tranh cãi trong người dân Đại lục. Có lẽ vẫn có những người dân Trung Quốc ngưỡng mộ Mao; có lẽ vì hơn 60 năm qua họ đã được dạy Mao là người vĩ đại; có lẽ họ không muốn phủ nhận chính họ vì một thời họ đã tôn sùng Mao, đã trở thành Hồng vệ binh gây nhiều tội ác. Nhưng, có lẽ, cũng có nhiều người Trung Quốc tự hỏi, nếu như không có ngày 1-10-1949, Trung Quốc có phải trải qua 3 thập kỷ địa ngục như vậy không. Lịch sử không có chữ “nếu”, cho dù có ai đó đang nghiên cứu về con đường mà Việt Nam lẽ ra đã đi nếu như Mao không nắm quyền kể từ năm 1949.

Nghe nói Thông Tấn Xã Việt Nam mới cho dịch và xuất bản cho các cơ quan, đơn vị cuốn sách của Đại tá Tân Tử Lăng. Mục tiêu của Thông tấn Xã Việt Nam thường không phải kinh doanh. Hy vọng là đã có nhiều người Việt Nam đọc được.

Huy Đức điểm sách

Chuyên mục:Sưu tầm
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.