Trang chủ > Tư liệu > Tôi đi học

Tôi đi học

hchup13 Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.
Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.
Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.
Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.
Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quý và không ra đồng nô hò như thằng Sơn nữa.
Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn.
Dọc đường tôi thấy mấy cậu nhỏ trạc bằng tôi, áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem mà tôi thèm. Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng. Tôi bặm tay ghì thật chặt, nhưng một quyển vở cũng chì ra và chênh đầu chúi xuống đất. Tôi xóc lên và nắm lại cẩn thận. Mấy cậu đi trước o sách vở thiệt nhiều lại kèm cả bút thước nữa. Nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hết.
Tôi muốn thử sức mình nên nhìn mẹ tôi:
- Mẹ đưa bút thước cho con cầm.
Mẹ tôi cúi đầu nhìn tôi với cặp mắt thật âu yếm:
- Thôi để mẹ nắm cũng được.
Tôi có ngay cái ý kiến vừa non nớt vừa ngây thơ này: chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước.
Ý nghĩ thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi.
Trước sân trường làng Mỹ Lý đầy đặc cả người. Người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa.
Trước đó mấy hôm, lúc đi ngang làng Hòa An bẫy chim quyên với thằng Minh, tôi có ghé trường một lần.
Lần ấy trường đối với tôi là một nơi xa lạ. Tôi đi chung quanh các lớp để nhìn qua cửa kính mấy bản đồ treo trên tường. Tôi không có cảm tưởng gì khác là nhà trường cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng.
Nhưng lần này lại khác. Trước mặt tôi, trường Mỹ Lý vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình Hòa Ấp. Sân nó rộng, mình nó cao hơn những buổi trưa hè đầy vắng lặng. Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ.
Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bở ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nữa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ.
Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi, mấy người học trò cũ đến sắp hàng dưới hiên rồi đi vào lớp. Chung quanh những cậu bé vụng về lúng túng như tôi cả. Các cậu không đi. Các cậu chỉ theo sức mạnh kéo dìu các cậu tới trước. Nói các cậu không đứng lại càng đúng hơn nữa. Vì hai chân các cậu cứ dềnh dàng mãi. Hết co lên một chân, các cậu lại duỗi mạnh như đá một quả banh tưởng tượng. Chính lúc này toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp.
Ông đốc trường Mỹ Lý cho gọi mấy cậu học trò mới đứng lên trước lớp ba. Trường làng nhỏ nên không có phòng riêng của ông đốc. Trong lúc ông đọc tên từng người, tôi cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập. Tôi quên cả mẹ tôi đang đứng sau tôi. Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng. Sau khi đọc xong mấy mươi tên đã viết sẵn trên mảnh giấy lớn, ông đốc nhìn chúng tôi nói sẽ:
- Thế là các em đã vào lớp năm. Các em phải cố gắng học để thầy mẹ được vui lòng, và để thầy dạy chúng em được sung sướng. Các em đã nghe chưa? (Các em đều nghe nhưng không em nào dám trả lời. Cũng may đã có tiếng dạ rang của phụ huynh đáp lại).
Ông đốc nhìn chúng tôi với cặp mắt hiền từ và cảm động. Mấy cậu học trò lớp ba cũng đua nhau quay đầu nhìn ra. Và ngoài đường cũng có mấy người đứng dừng lại để nhìn vào. Trong những phút giây này chúng tôi được người ta ngắm nhìn nhiều hơn hết. Vì vậy đã lúng túng chúng tôi càng lúng túng hơn.
Ông đốc lấy cặp kính trắng xuống rồi nói:
- Thôi, các em đứng đây sắp hàng để vào lớp học.
Tôi cảm thấy sau lưng tôi có một bàn tay dịu dàng đẩy tôi tới trước. Nhưng người tôi lúc ấy tự nhiên thấy nặng nề một cách lạ. Không giữ được chéo áo hay cáng tay của người thân, vài ba cậu đã từ từ bước lên đứng dưới hiên lớp. Các cậu lủng lẻo nhìn ra sân, nơi mà những người thân đang nhìn các cậu với cặp mắt lưu luyến. Một cậu đứng đầu ôm mặt khóc. Tôi bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ tôi nức nở khóc theo. Tôi nghe sau lưng tôi, trong đám học trò mới, vài tiếng thút thít đang ngập ngừng trong cổ. Một bàn tay quen nhẹ vuốt mái tóc tôi.
Ông đốc nhẫn nại chờ chúng tôi.
- Các em đừng khóc. Trưa này các em được về nhà cơ mà. Và ngày mai các em lại được nghỉ cả ngày nữa.
Sau khi thấy hai mươi tám cậu học trò sắp hàng đều đặn dưới hiên trường, ông đốc liền ra dấu cho chúng tôi vào lớp năm. Một thầy trẻ tuổi, gương mặt hiền từ, đang đón chúng tôi vào cửa lớp. Trong thời thơ ấu tôi chưa bao giờ xa mẹ tôi như lần này. Tôi cũng lấy làm lạ vì có nhũng hôm đi chơi suốt cả ngày với chúng bạn ở đồng làng Lệ Xá, lòng tôi vẫn không cảm thấy xa nhà hay xa mẹ tôi chút nào hết.
Một mùi hương lạ xông lên trong lớp. Trông hình gì treo trên tường tôi cũng thấy lạ và hay hay. Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi rất cẩn thận rồi tự nhiên nhận là vật riêng của mình. Tôi nhìn người bạn tí hon ngồi bên tôi, một người bạn tôi chưa hề biết, nhưng lòng tôi vẫn không cảm thấy sự xa lạ chút nào. Sự quyến luyến ấy tự nhiên và bất ngờ quá đến tôi cũng không dám tin là có thật. Một con chim con liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao.
Tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim. Một kỷ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa bay trên bờ sông Viêm sống lại đầy dẫy trong trí tôi.
Nhưng những tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đọc:
Bài tập viết: Tôi đi học!

Thanh Tịnh

Categories: Tư liệu Thẻ:
  1. Thanh Nguyen
    Tháng Chín 7, 2009 lúc 3:33 chiều | #1

    Rat vui duoc gap chu. Chu viet nhieu loc wa nhi?

  2. Nguyen Thi Hai Anh
    Tháng Chín 7, 2009 lúc 6:03 chiều | #2

    Tôi cũng như anh, ai cũng nhớ hầu như thuộc lòng truyện ngắn này của Thanh Tịnh. Ngày nay ít ai chăm chút từng câu văn trong sáng và bình dị như vậy nữa.

  3. Tháng Chín 19, 2009 lúc 10:58 sáng | #3

    Tôi nhớ có học một bài về ngày tựu trường của tác giả Pháp là Antole hay Antoine France gì đó mà lâu quá không còn nhớ. Bài đó cũng nói lên cảm tưởng của một cậu học trò nhỏ trong ngày tựu trường đi ngang qua vườn Lục Xâm Bảo mà hồi tưởng những ngày nghỉ hè vừa qua. Bạn nào còn nhớ xin vui lòng chỉ hộ.

    Cám ơn trang chủ Hùng Lân đã ghi lại trọn bài “Ngày Tựu Trường” của Thanh Tịnh.

    Không biết Thanh Tịnh bây giờ có còn không? Và ông ta nghĩ như thế nào về nền giáo
    dục của chế độ mà ông đã hy sinh cả cuộc đời để phục vụ? Có lẽ ông ta thất vọng nhiều hơn là hãnh diện. Thật là tội nghiệp cho những người có lý tưởng mà đi lầm đường.

    Hy vọng tuổi thơ của ngày mai sẽ có những ngày tựu trường thơ mộng như của Thanh Tịnh thì may mắn cho đất nước lắm.

    Kính mến,
    Nguyễn Bao Lương

  4. Tháng Chín 19, 2009 lúc 3:52 chiều | #4

    Cám ơn bác đã quan tâm. Đó là Anatole France. Bài Tôi đi học mà bác nói ngày xưa tôi cũng có học. Nó được trích trong cuốn Le Livre de mon ami (Cuốn sách của bạn tôi).

    Theo Wikipedia, Anatole France tên thật là François-Anatole Thibault, sinh ngày 16 tháng 4 năm 1844 – qua đời ngày 13 tháng 10 năm 1924, là nhà văn Pháp đoạt giải Nobel Văn học năm 1921.

    Anatole France sinh ở Paris, là con của một chủ cửa hàng sách, từ nhỏ đã ham mê văn học, nghệ thuật. Học ở trường Collège Stanislas. Trong thập niên 1860, France tiếp xúc với nhóm Parnasse và xuất bản tập thơ đầu tiên (1873). Sau đó ông chuyển sang viết văn xuôi và thật sự có tiếng tăm khi cuốn tiểu thuyết Le crime de Sylvestre Bonnard (Tội ác của Sylvestre Bonnard, 1881) ra đời và được nhận giải thưởng Viện Hàn lâm Pháp. Trong thập niên 1890, ông viết nhiều bài phê bình văn học cho Le Temps (Thời báo) và in thành 4 tập sách với tên La vie littéraire (Đời sống văn học).

    Những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tư tưởng và sáng tác của Anatole France đã có những thay đổi. Ông từ bỏ lập trường người quan sát để trở thành chiến sĩ đấu tranh cho nền dân chủ. Cụ thể là trước kia ông thường miêu tả cuộc sống và con người thời kỳ Trung cổ hoặc thời kỳ suy vong của chế độ phong kiến, thì nay ông viết về các sự kiện lịch sử và xã hội đương đại, đồng thời tiếp tục truyền thống nhân văn chủ nghĩa của Rabelais và Voltaire, phê phán nền cộng hòa thứ ba của Pháp, chế giễu không thương xót những kẻ gây chiến tranh xâm lược tàn khốc. Năm 1921 ông được trao giải Nobel Văn học vì “những tác phẩm xuất sắc mang phong cách tinh tế, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí chất Gô-loa đích thực”..

    A. France là một trong những nhà văn lớn nhất của nước Pháp thời cận đại, trải qua một con đường khó khăn và phức tạp từ chủ nghĩa nhân đạo ảo tưởng đến chủ nghĩa hiện thực cách mạng. Ông mất ở Tours, Indre-et-Loire.

    Tác phẩm:
    Poèmes dorés (Những câu thơ vàng, 1873), thơ
    Les Noces corinthiennes (Đám cưới ở Corinthe, 1876), kịch thơ
    Jocaste et Le Chat maigre (Jocaste và con mèo gầy, 1879), truyện
    Le Crime de Sylvestre Bonnard, membre de l’Institut (Tội ác của Sylvestre Bonnard, 1881), tiểu thuyết
    Les Désirs de Jean Servien (Những khát vọng của Jean Servien) 1872-1882), tiểu thuyết
    Le Livre de mon ami (Sách của bạn tôi, 1885), hồi ký
    Balthasar (1889), truyện ngắn
    La vie littéraire (Đời sống văn học, 1888-1892), phê bình văn học, 4 tập
    Thaïs (1890) tiểu thuyết
    L’Étui de nacre (Chiếc rương xà cừ, 1892), tập truyện
    La Rôtisserie de la reine Pédauque (Cửa hàng thịt quay của nữ hoàng Pédauque, 1893), tiểu thuyết
    Les Opinions de Jérôme Coignard (Những ý kiến của Jêrôme Coignard, 1893), tiểu thuyết
    Le Lys rouge (Bông huệ đỏ, 1894), tiểu thuyết
    Le Jardin d’Épicure (Vườn Epicure, 1894), tập cách ngôn
    Le puits de Sainte Claire (Cái giếng của Thánh nữ Claire, 1895), tập truyện
    Pierre Nozière (1899), hồi kí
    L’histoire contemporaine (Chuyện thời nay), gồm 4 tiểu thuyết:
    L’Orme du mail (Cây đu trên đường dạo chơi, 1897),
    Le Mannquin d’osier (Hình người bằng cây liễu, 1897),
    L’Anneau d’amethyste (Chiếc nhẫn tử thạch anh, 1899) và
    Monsieur Bergeret à Paris (Ông Bergeret ở Paris, 1901)
    Clio (1900), tập truyện
    Opinions sociales (Dư luận xã hội, 1902), tiểu luận
    L’Affaire Crainquebille (Vụ việc Crainquebille, 1901), truyện ngắn, năm 1903 chuyển thể thành vở kịch Crainquebille
    L’église et la république (Nhà thờ và nền cộng hòa, 1904), tiểu luận
    Crainquebille, Putois Riquet et plusieurs autres récits profitables (Crainquebille, Putois, Riquet và những câu chuyện có ích khác, 1904), tập truyện ngắn
    Sur la piere blanche (Trên phiến đá trắng, 1905), tiểu thuyết
    Ver les temps meilleurs (Hướng đến những thời tốt đẹp hơn, 1906), tiểu luận
    L’Île des Pingouins (Đảo Pingouins, 1908), tiểu thuyết
    Vie de Jeanne d’Arc (Đời Jeanne d’Arc, 1908), truyện danh nhân lịch sử
    Les Sept Femmes de Barbe bleue et autres contes merveilleux (Bảy người vợ của Râu Xanh, 1909), tập truyện
    Les Dieux ont soif (Thần linh khát, 1912), tiểu thuyết
    Le Génie latin (Thần Latin, 1913), tiểu luận
    La Révolte des anges (Thiên thần nổi loạn, 1914), tiểu thuyết
    Sur la voie glorieuse (Trên đường vinh quang, 1915), tập tiểu luận
    Ce que disent nos morts (Những người bị giết của chúng ta nói gì, 1916), tập tiểu luận
    Le Petit Pierre (Pierre bé nhỏ, 1918), hồi ký
    La Vie en fleur (Cuộc sống nở hoa, 1922), hồi ký
    Les dialogues sous la rose (Đối thoại dưới hoa hồng, 1917-1924, in năm 1925), tiểu luận triết học.

  5. Tháng Mười 27, 2009 lúc 8:32 chiều | #5

    Anh Hùng Lân thân mến, gởi gấm anh bài viết này nè:

    Niên Học Mới

    Nhập học, lại nhắc đến đoản văn của nhà văn Thanh Tịnh:

    Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.
    Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.
    Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

    Đoản văn ngắn thế thôi, đã thuộc lòng, đã trải bao tuế nguyệt phong sương, nghĩ đến lại nao nao tấc dạ.

    Kể ra bảo là khoe, nhà văn Thanh Tịnh là cậu ruột của bạn tôi, người bạn nhỏ nhẹ giọng Huế. Thời khốn khó hàn vi, tìm một tờ giấy trắng để đề thơ không ra, chúng tôi rất khắng khít. Căn nhà nhỏ ấm cúng, trong bếp có bể chứa nước, bạn dạy tôi làm bánh nậm bánh bột lọc, làm mứt dứa mứt dừa dẻo, tinh là những món cầu kỳ xứ Huế. Sắp mâm cơm, dù phải mua từng trăm gram thịt, trên bàn cũng có hơn mười đĩa thức ăn, mỗi đĩa được chưng dọn thật đẹp, vừa ăn mẹ của bạn vừa nhắc đến cậu: “Hắn viết chữ đẹp nhứt thôn đó nợ, bác làm thơ nhờ hắn ghi lại, bác giữ tập thơ kỹ lắm, rứa mờ chịu mất khi chạy giặc vào nam.” Bài văn “Tôi Đi Học” chỉ là một trong muôn vàn bài văn hay khác, ông viết trong vở, anh chị em trong nhà được đọc. Nhìn hình nhà văn Thanh Tịnh, đôi mắt có đuôi dài, dấu ấn của cả dòng tộc, có hồn thi sĩ, chỉ vì đất nước chia đôi, chỉ vì dòng sông hai nhánh, bên đục bên trong mà gia đình chia cắt, 1975 tưởng gặp được nhau mà hóa ngại ngần, hoang mang nên hay chẳng. Cậu thì có tuổi đảng trong khi chú với chức vụ đại tá quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị tù cải tạo.

    Thuở tôi chuẩn bị đi học rộn rã lắm, được mua cho cái cặp da là cả một gia tài, mùi da bò thuộc thơm thơm, cái quai vừa tay nắm, cái khóa mạ kềm sáng choang. Những quyển vở học trò kẻ ô vuông sọc nhuyễn màu xanh, nhạt thật nhạt, nhà có tiền mua giấy trắng láng, khi viết mực không lem sang trang kế, nhà trung bình mua vở rẻ hơn một chút, giấy có màu ngà, loại vở tệ nhất giấy vàng như giấy bản, thấm mực giống như giấy thấm (chậm). Để bao vở, con nhà giàu có tiền mua giấy hoa, hay giấy màu, thêm một cái bao ny-lông trong bọc bên ngoài, con nhà nghèo dùng giấy báo, giấy của các trang tuần báo, có hình nghệ sĩ in bằng màu nhòe nhoẹt.

    Nhớ cái dụng cụ thấm mực, nửa vòng cung, có núm cầm lăn lên xuống sau khi viết, màu mực in lên nó ngày một nhiều, theo tuổi của học trò. Tiểu học chưa biết gì, mẹ cho mực nào dùng mực ấy, trung học đệ nhất cấp tự mình pha mực lấy, trung học đệ nhị cấp dùng viết bi viết paker. Nam sinh lo học để mưu cầu công danh – sự nghiệp. Nữ sinh chểnh mảng thích thơ phú, truyện tình lãng mạn, “Hồn Bướm Mơ Tiên” Tự Lực Văn Đoàn, “Mắt Nâu” Lệ Hằng, “Thố Ti Hoa” Quỳnh Dao, trong lúc thổi cơm trong góc bếp, mơ màng người hùng xuất hiện, rước về hầu hạ người ta. Cái thuở “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” ấy là thuở “lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.”

    Bây giờ tôi hoang mang nghĩ ngợi về ngày tựu trường.

    Buổi sáng hôm nay, ngày đầu nhập học, là một buổi sáng đầy sương mù và gió lạnh, những chiếc xe hơi đủ màu sắc, lũ lượt theo nhau ghé cổng trường. Tìm được chỗ đậu xe xong, người mẹ vội vã nắm tay con dẫn vào lớp học, các cháu như chim ríu rít theo cô giáo, quên cả nhìn mẹ tất tả trở lại xe, nhập vào dòng thác trên xa lộ, để kịp giờ đến sở làm.

    Vào niên học mới, xe cộ đông hơn vào giờ học trò đến lớp, trường học có hẳn một nơi để phụ huynh lái xe vào, ngừng lại mở cửa xe cho con bước xuống, cô giáo đón ngay bậc thềm. Các ngã tư, ngã ba đường là các nhân viên mặc áo màu cam, có cầm bảng Stop, để ngăn xe cho các cháu băng ngang. Tiền lương của các nhân viên này rất ít, nhưng họ lại rất yêu công việc , phần đông họ là các ông bà đã về hưu. Mỗi sáng với nụ cười trên môi, các nhân viên này gặp các phụ huynh đưa con đi học, chào hỏi lẫn nhau mà thành thân thuộc, ngay cả các cư dân sống gần đấy, mỗi lần đi ngang đều giơ tay chào, ba tháng hè trụ đèn giao thông thiếu bóng áo cam, bỗng nhớ.

    So sánh hai thời đại, hai quốc gia, con đường làng dài và hẹp cậu bé nhút nhát núp sau tà áo mẹ với con đường tráng nhựa thật đẹp, cô cậu học trò vui vẻ hân hoan vào lớp không chút sợ hãi, đủ nói lên được tính chất của bao thế hệ mới trong tương lai.

    Câu hát Học Sinh Hành Khúc của Lê Thương: “Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau, học sinh xây đời niên thiếu trên bao công lao . . .” Công lao cha mẹ, công lao thầy cô, đổ bao nhiêu nhọc nhằn để xây đắp, ngày nay trên đất nước Việt Nam, công lao cha mẹ phải nặng nề hơn khi vừa đến tuổi vào mẫu giáo, các cháu đã phải đối diện ngay với việc đút lót, gởi tay. Nhiệm vụ của thầy cô càng khổ sở hơn, khi giáo chức bị sắp sếp vào mức nghèo đói, thầy cô phải dậy thêm, ngay cả tìm đủ mọi cách để sống còn, để truyền dạy kiến thức cho con cho cháu. Vừa nghe tin một giảng viên của trường “Nông Lâm Súc” tại Việt Nam, vừa bị học trò tạt acid, vì đã không chấm điểm đậu cho anh ta ra trường.

    Tùy theo mỗi thời, mà con cháu được hưởng ngày đầu nhập học thế nào! Tôi ngắm hình ảnh các cháu vui vẻ đi học ngày đầu tại Mỹ, vẫy tay chào nhân viên dẫn đường, nhớ đến đoản văn thời tiền chiến của đất nước tôi, nghĩ đến các ông thời xưa ấy, núp sau áo mẹ sợ sệt hoang mang trên con đường làng hẹp lúng túng đến trường, nay đang là các đảng viên kỳ cựu trong guồng máy chính quyền Việt Nam. Các cháu bé bỏng, bước đầu vào mẫu giáo đã thấy cha mẹ phải đút lót, phải nhờ uy quyền thế lực thì trong tương lai, các cháu thoải mái đút lót, nhờ vả có gì là ngạc nhiên.

    Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài, thôi thì đoản văn trong quá khứ ấy chỉ còn là bức tranh treo tường, lâu lâu ngắm lại. Khung cảnh đời thường nơi quốc gia này, các cháu cùng cha mẹ, tung tăng trong các tiệm bán quần áo đồng phục đi học, hân hoan chọn lựa giấy bút cặp sách, chất thành từng đống ê hề trong các khu thương mại, dù cả thế giới đang lo sợ bệnh dịch H1N1, dù kinh tế chưa hồi phục như mong muốn, các cháu vẫn hồn nhiên sống trong sự bảo bọc an lành, ánh mắt trẻ thơ vẫn trong veo không vướng sầu lo.

    Hôm nay, ngày đầu con cháu tôi nhập học.

    Cùng thời, cùng một khoảng thời gian sống, nay tôi sống đằng Tây, bạn bè thân thuộc xưa còn sống đằng Đông, mặt trời mọc và lặn khác nhau, cảnh sống khác nhau, nhờ internet đọc được nhau – chia sẻ mưa đông gió tây để thấy những cảnh đời .

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.