Việc học không bao giờ được coi là đủ, vì nó như dòng nước trên nguồn chảy mãi ra biển khơi, người thì biết hứng lấy nước tưới cho cây tri thức thêm xanh, kẻ chỉ biết lấy nước rửa ráy dung nhan bên ngoài bằng những tấm bằng cấp. Muốn học thì phải có trường, và không ngôi trường nào đầy đủ, sinh động, chân chính và cay đắng hơn ngôi trường này: Trường Đời...

Chuyện chữ nghĩa

Tháng Mười 27, 2009 Để lại phản hồi

chunghia Khoảng đầu thập niên 80, lúc đó mới giải phóng được năm bảy năm gì đó, tình hình dân cư ở nhiều địa phương nước ta có nơi còn rất là tăm tối, nhất là các vùng cứ địa cách mạng và vùng kinh tế mới, nơi chúng tôi về sinh sống, lắm người lập gia đình đã lâu mà vẫn chưa biết chữ, bởi thế mà bọn sinh viên gãy gánh như chúng tôi coi vậy chứ nhiều khi cũng có giá lắm đấy, nào là đi dạy bình dân học vụ nè, nào là đi điều tra dân số, hiến pháp, làm tổ bầu cử v.v… chứ thời ấy ai mà làm cho? Thậm chí ông chủ tịch xã chỉ biết giữ cái con mộc đỏ chói và ký tên mà thôi, chỉ chỗ nào ký chỗ ấy, đọc thì đánh vần từng chữ thấy mà tội nghiệp, nhưng cái bề dày cách mạng vào sinh ra tử thì chẳng ai bằng. Thời ấy hầu như địa phương nào cũng thế.
Nói vậy để biết rằng cái sự học nhiều khi cũng rất có lợi, và cũng có lúc sơ sẩy một chút thôi vẫn rất có hại, hại cho cái dân tình khốn khổ mù chữ này. Tôi vẫn nhớ vào buổi sập tối hôm đó, vừa thắp ngọn đèn dầu lên thì có một chị công nhân hơn tôi khoảng năm bảy tuổi gì đó, tay cầm cái tờ giấy carô cuốn tròn mua ngoài chợ đến gặp tôi. Tôi mời chị vào nhà và vặn bấc đèn lên một chút cho sáng. Trời ạ! Mặt chị sưng húp, tím bầm nhiều chỗ nhưng cũng vẫn cố giữ vẻ thản nhiên, miệng thì lẩm bẩm chửi thề nguyền rủa ai đó.
- Có chuyện gì mà căng thẳng vậy chị? – Tôi hỏi.
- Mẹ nó chớ! – Chị nghiến răng: – Tao chịu hết nổi rồi Lân ơi! Chồng con như cục đếch họ, bao nhiêu năm nay tao nhịn nhục quá rồi, bây giờ không thể nào chịu nổi nữa…
- Chị nói sao? Ảnh đánh chị à?
Không trả lời, chị xòe tờ giấy carô ra trước mặt tôi:
- Mẹ nó chớ, lần này thì dứt khoát! Tao dứt khoát rồi…

Read more…

Categories: Sưu tầm

Thực tại và Chữ nghĩa

Tháng Mười 23, 2009 Để lại phản hồi

loingo1 Đầu thập niên 90′, thấy madame nhà mình viết lách ì xèo được xuất bản hết bộ này bộ nọ nên mình ngứa tay, cũng tập tành viết lách một thời gian, ngày vẽ đêm viết, ấy thế mà mình cũng được in 4 cuốn kể mới lạ chứ: Cuối cùng cho một tình yêu, Cho người yêu dấu, Trái tim cô đơn và Lưới nhện, trong đó cuốn Cho người yêu dấu mình thích nhất sau khi nhận sách tác giả về đem tặng người này người kia, cho mượn lung tung rốt cuộc đến nay không còn lưu lại được bản nào, tiếc ơi là tiếc! Kể lại không phải để khoe hàng đâu nhé, vì mấy truyện này văn chương bình dân, tâm lý xã hội chứ chẳng phải văn chương bác học gì, ấy thế mà một thằng khô khốc như mình cũng kham được thì quả thật mèo khen mèo dài đuôi, madame mình là phụ nữ nên trí tưởng tượng phong phú hơn nhiều, thường bà ấy viết một bộ hai cuốn, còn mình thì mỗi tựa một cuốn 300 trang cũng đã là bở hơi tai, vì đối với một tên dở hơi và cực đoan như mình, thực tại và chữ nghĩa nó khó sóng đôi quá, y như anh chàng đội mũ lệch, hở một mảng đầu, cái hở ấy là cái ba xạo mà trí tưởng tượng con người thường chêm vào cuộc đời cho cay đắng ngậm ngùi, cho sướt mướt tỉ tê, cho đê mê và ba que xỏ lá.

Thường thì mấy cuốn tiểu thuyết tôi viết, ngoài nước mắt ra, tôi hay đưa yếu tố hình sự vào cho giật gân, đương nhiên yếu tố mùi mẫn là phải có rồi, nhưng với một mức độ nào đó cho phép, vì thời ấy mới đổi mới được vài năm, kiểm duyệt cũng khá khắt khe chứ không như ngày nay. Ấy thế mà bây giờ nghĩ lại, cái mức độ mùi mẫn ấy chẳng biết mình đào ở đâu ra hay thiệt, yêu ót tay ba tay tư rồi khóc lóc than van, tủi hờn và tê tái tự dưng nó ở đâu ùa về khiến mình viết rất nhanh, có đêm viết tới hơn 15 trang giấy học trò… Nay già rồi, ngồi ngẫm nghĩ lại thấy nó tếu và cải lương chi lạ, thỉnh thoảng lôi ra đọc cười muốn sặc gân cổ luôn á. Chẳng hiểu vì sao thực tại nó có thế bao giờ đâu, thế mà chữ nghĩa nó cứ làm y như thiệt, nhiều người chẳng bao giờ tin tôi đâu, ngay cả anh Tổng Biên tập Đoàn Tấn Hướng ngày xưa cũng bảo rằng tôi ba xạo, ảnh còn khuyên tôi bỏ nghề vẽ mà theo nghề viết đi. Tôi chỉ nốc rượu cười hề hề mặc anh, làm cho ảnh bán tín bán nghi cho vui thôi chứ cái thằng tôi xuề xòa lắm, rồi có khi họ cho rằng cái vỏ xuề xòa bên ngoài chỉ giả vờ che đậy những thứ khủng khiếp xấu xa bên trong không chừng, tôi cũng không quan tâm, vì cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, đâu có gì phải ngán, viết cho vui và cũng để kiếm cơm qua ngày chứ mình đâu có ham gì tên với tuổi. Mãi về sau bận vẽ mấy bộ truyện tranh gấp quá nên tôi ngưng viết từ đó đến nay.

Xét cho cùng thì thực tại và chữ nghĩa tuy có sự tương quan về diễn đạt, nhưng tôi dám cá là chẳng nhà văn nào dại dột đưa hết sự thực, đưa lưng mình ra cho thiên hạ dòm đâu, ngay cả Henri Charrière là tác giả cuốn Papillon – Người Tù Khổ Sai khi phóng viên hỏi có bao nhiêu sự thật trong cuốn tiểu thuyết của ông, ông chỉ cười khì mà nói rằng, bạn nghĩ sao thì nghĩ, nếu nó thực quá thì còn gì là tiểu thuyết?

Chữ nghĩa ngày nay lắm khi tôi phát sợ, tiểu thuyết hầu như muốn ăn khách lại phải đưa những yếu tố tính dục vào cho thật nhiều, lắm khi khai thác quá mức khiến đọc qua thấy rùng mình vì sự sống sượng của chữ nghĩa và cái sền sệt bát nháo của văn học thị trường, người ta lợi dụng chữ nghĩa để kiếm danh và kiếm tiền. Trước giải phóng vẫn có một dòng tiểu thuyết gọi là tiểu thuyết lá cải, nhưng cái lá cải ấy cũng không phải dễ kiếm đâu nhé, thời ấy có Bà Tùng Long, Bà Lan Phương, Lã Phi Khanh… là những cây bút hàng đầu trong dòng văn học bình dân này, tuy nhiên xin đừng coi thường vì chính Nhà văn Nguyễn Đông Thức bây giờ cũng hân hạnh và tự hào khi anh chính là con của Bà Tùng Long đấy nhé. Cái hay của dòng tiểu thuyết ấy là không cần văn chương bác học gì, tác giả cũng vẫn có thể đưa người xem đến những tình tiết thú vị và gần gũi, người xem như bị cuốn hút vào chính cuộc đời mình, mong đọc cho hết trang này để mở sang trang khác, đó chính là sự thành công của người viết, biết dùng chữ nghĩa với thực tại tạo thành dựa trên sự tưởng tượng phong phú mà có. Lá cải mà được như thế thì chắc gì văn chương bác học để mãi trên kệ sách hơn thua chi nhau?

Nhưng thôi, bàn về vấn đề này không chỉ đơn giản vài chục entry đâu, người ta nghiên cứu bạc đầu chưa chắc đã hết, mình chỉ thấy chút ít thực tại nên ngứa ngáy, muốn dùng chữ nghĩa viết ra đôi điều cho vui thôi chứ không dám múa may gì… Có điều bây giờ nghĩ lại, sao ngày xưa mình không thử liều một phen nhỉ? Biết đâu ngày xưa có Bà Lan Phương, ngày nay có Bà Lân Phương thì sao ta? Có lẽ Bà Lân Phương này hơi bị xạo rồi… Xin đừng tin nhé!

Categories: Sưu tầm

Quốc khánh Trung quốc

Tháng Mười 1, 2009 Để lại phản hồi

(trích từ blogosin)

Hôm nay, trong cái ngày mà Bắc Kinh gọi là quốc khánh, chắc chắn chính quyền Trung Quốc chỉ nói về sự trỗi dậy suốt hơn hai thập niên qua và những đích đến phỉnh nịnh cơn thèm khát của nhiều người dân mộng bá quyền Đại Hán. Mao Chủ Tịch vẫn cười tủm tỉm trước cửa Thiên An Môn. Sáu mươi năm trước Mao đã thắng trong một cuộc chiến “da thịt tàn nhau”, đuổi Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan. Người dân Trung Quốc được dạy đấy là công lao. Nhưng, rồi nhiều người trong số họ cay đắng nhận ra đó là ngày Mao bắt đầu biến Đại Lục thành địa ngục. Sau đây là những thông tin lấy từ cuốn Mao Trạch Đông Ngàn Năm Công Tội, được viết bởi một nhà nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện quân sự cấp cao Trung Quốc, đại tá Tân Tử Lăng.

Đại tá Tân Tử Lăng viết: “Mọi sai lầm lớn của Mao như giết hại công thần, gây bè phái trong đảng, bám chặt lấy chế độ lãnh đạo suốt đời và gia đình trị, dung túng phe đảng Giang Thanh, đều thuộc thuật cầm quyền của vua chúa”. Nhưng, cho dù lịch sử Trung Hoa có không ít hôn quân, có lẽ không một thiết chế nào trước đó cho phép một con người có thể táng tận như Mao tồn tại. Tháng 8-1958 khi cả nước mới chỉ sản xuất được 4,5 triệu tấn thép, Mao ra lệnh năm ấy phải nâng sản lượng thép lên 11 triệu tấn. Mao nói: “Phải chuyên chế, phải kết hợp giữa Karl Marx và Tần Thuỷ Hoàng”. Có lẽ không có nhà lãnh đạo quốc gia nào như Mao, ra lệnh “gom phế liệu và tháo dỡ cả đường sắt để đúc thép nhằm hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng”.

Cho dù các con số sắt thép làm ra chỉ là những báo cáo dối trá, việc huy động những người khoẻ mạnh đi làm “gang thép” đã khiến cho thóc lúa hư hỏng ngoài đồng không có người thu hoạch. Ở huyện Tỉnh Nghiên, Tứ Xuyên, năm 1959, vào lúc đói kém nhất, bình quân mỗi ngày một người chỉ được phân phối 100 gam lương thực; cứ 8 người dân, có một người chết đói. Sau gang thép, Mao phát động cao trào “đại tiến vọt” lần hai. Ngày 3-9-1958, Mao tuyên bố: “Sản lượng lương thực có thể tăng lên 370 triệu tấn, gấp 2 lần năm ngoái. Nếu năm 1959 lại tăng gấp 2 lần thì sản lượng lương thực sẽ là 750 triệu tấn”. Khi các địa phương báo lên sản lượng lương thực không những tăng mà còn xấu hơn, Mao sợ bẽ mặt bèn cho rằng ‘lương thực bị giấu bớt” rồi hăm: “Phải tiến hành một đợt giáo dục kiên quyết”. Để quán triệt tinh thần kiên quyết của Mao, Khu uỷ Tín Dương, tỉnh Hà Nam tập họp 6.000 người để đấu tố 60 người “giấu bớt lương thực” không nộp cho nhà nước. Nhưng, chính những người đi dự hôm ấy cũng đang không có lương ăn, một người chết đói tại chỗ, 19 người chết trên đường về nhà. Trên tinh thần ấy, tỉnh Hà Nam dù thu hoạch 9,75 triệu tấn vẫn báo cáo lên 22,5 triệu tấn. Năm 1959, trên toàn quốc, theo báo cáo: 270 triệu tấn lương thực, thực tế chỉ có 170 triệu tấn; năm 1960 giảm còn 143 triệu tấn.

Theo đại tá Tân Tử Lăng, mùa xuân 1960 nạn đói tràn lan, có làng 80 ngày người dân không có một hạt gạo vào bụng, vậy mà Bí thư Khu uỷ Tín Dương vẫn lên giọng: “Không phải thiếu lương thực, 90% là vấn đề tư tưởng”. Trước đó, khi Bí thư tỉnh uỷ An Huy Trương Khải Phong cho giải tán 4.000 nhà ăn tập thể vì không còn lương thực, Mao phê vào báo cáo: “Trương Khải Phong đứng trên lập trường giai cấp tư sản, mưu toan phá hoại nền chuyên chính vô sản”. Khu uỷ Tín Dương sau đó lại càng “chuyên chính” hơn, phong toả,  không cho dân chúng ra khỏi làng. Theo tài liệu do Bộ Chính trị Trung Quốc “giải mật” sau này, những năm ấy Tín Dương có hơn một triệu người chết đói. Trịnh Đại Quân, một cán bộ Ban Công tác nông thôn huyện Sùng Khánh kể rằng, một đội sản xuất có 82 hộ, chỉ trong một năm, từ tháng 12-1959 đến 11-1960 có 48 bé gái 7 tuổi trở xuống bị người lớn làm thịt, chiếm 90% số bé gái cùng độ tuổi. Trịnh Đại Quân kể, người ta phát hiện ra vụ ăn thịt trẻ em đầu tiên do toán điều tra nhìn thấy “một làn khói mỏng toả ra từ mái nhà bần nông Mạc Nhị Oa”. Họ bao vây, vu hồi, rồi đồng loạt nhảy vào: “Nhà Nhị Oa 8 nhân khẩu, đã chết đói 2, nhưng chỉ còn lại 5. Bé gái Thụ Tài đang bị luộc trong nồi. Trong lúc tổ tuần tra tìm dây trói can phạm, Nhị Oa và mấy đứa con lao vào cướp thịt Thụ Tài nhai ngấu nghiến”. Nạn ăn thịt trẻ con sau đó còn lan ra: “Kẻ nhẫn tâm thì ăn thịt con ngay tại nhà mình. Kẻ mềm yếu hơn thì gạt nước mắt đổi con với hàng xóm”… Nạn đói có thể không tới mức như vậy nếu như tháng 6-1959 mặc dù tình hình lương thực giảm, Mao vẫn quyết định xuất khẩu 4,19 triệu tấn để lấy vàng và đô la. Theo số liệu chính thức do Bộ Chính trị Trung Quốc giải mật tháng 9-2005, sau 4 năm Mao phát động “cao trào xã hội chủ nghĩa ở nông thôn” có tới 37,55 triệu người chết đói.

Nhưng, “đói” chưa phải là bi kịch lớn nhất của người Trung Quốc. Ngày 30-4-1957, Mao gặp đại diện trí thức, động viên góp ý cho Đảng, giúp sửa chữa sai lầm. Mục tiêu của Mao là dùng đại hội này để xác lập vị trí lãnh đạo tư tưởng của mình trong giới trí thức, nhưng tình hình diễn biến không như Mao trông đợi. La Long Cơ, Bộ trưởng Lâm Nghiệp, lãnh tụ của giới trí thức từ Âu- Mỹ trở về phát biểu rằng: “Tiểu trí thức chủ nghĩa Marx- Lenin lãnh đạo đại trí thức của giai cấp tiểu tư sản là người mù chỉ đường cho người sáng mắt”. Mao nổi giận. Một mặt vẫn cho thảo luận để “dụ rắn ra khỏi hang”. Một mặt, dựng lên “Vụ án chống đảng”. Theo thống kê của Trung Quốc, có 552.877 trí thức là nạn nhân của “vụ án” do Mao lập ra này.

Nhưng, Cách mạng văn hoá mới là trung tâm của địa ngục. Cuộc Cách mạng do những thanh niên bị kích động được gọi là Hồng vệ binh, chỉ riêng hạ tuần tháng 8-1966, khi mới bắt đầu, “nội thành Bắc Kinh đã có hàng ngàn người bị đập chết tươi. Nhiều người khi ấy được chứng kiến những cuộc tắm máu, những kiểu giết người man rợ thời trung cổ”. Cả nước có 10 triệu gia đình bị lục soát. Sinh viên sư phạm Bắc Kinh kéo về Sơn Đông “san bằng” mộ Khổng Tử. Lăng mộ Hạng Vũ, Gia Cát Lượng, Ngô Thừa Ân… cũng bị đập phá. Ngay đến một người bạn chiến đấu của Mao, đang là Chủ tịch Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, ông Lưu Thiếu Kỳ, cũng bị Mao bỏ mặc cho Hồng vệ binh tàn sát. Năm ấy ông Lưu đã 69 tuổi, tay bị thương khi cùng Mao chiến tranh, tận mắt chứng kiến vợ là Vương Quang Mỹ bị bắt giam; ba người con đang tuổi đi học bị đưa vào trường thẩm tra; bé út 6 tuổi phải theo bảo mẫu ra khỏi Trung Nam Hải. Ông Lưu, bị giam ngay trong phòng Chủ tịch Nước, với 7 cái răng còn lại, cơm ăn thì thường là thiu, ông bị tiêu chảy, lại không thể thay quần áo, trong phòng hôi nồng. Đã thế, ngày nào cũng bị đấu tố, hạ nhục rồi bị lưu đày cho đến khi chết đau đớn hơn cả một kẻ ăn mày. Cuộc Cách mạng văn hoá kéo dài 10 năm đã lấy thêm sinh mạng của gần 20 triệu người dân Trung Quốc.

Đại tá Tân Tử Lăng giải thích: Thoạt đầu Mao làm “đại tiến vọt” để đưa Trung Quốc vượt qua các nước phương Tây hòng làm ‘lãnh tụ thế giới”. Khi thất bại, dẫn tới cái chết của hàng chục triệu dân thì Mao lại làm tất cả mọi việc để hòng che đậy những sai lầm ấy. Đại tá cho rằng: “Không có sai lầm của đại tiến vọt thì không có đại cách mạng văn hoá để bức hại Lưu Thiếu Kỳ, gạt bỏ Lâm Bưu, phế truất Đặng Tiểu Bình… nhằm đưa Giang Thanh lên nắm quyền”. Theo Đại tá: “ Mao truyền ngôi cho Giang Thanh là bất đắc dĩ. Nhưng, Mao cần có hai thế hệ: Giang Thanh và Mao Viễn Tân, đủ để viết lại lịch sử, chối phắt trách nhiệm làm 37,55 triệu người chết đói”.

Cuốn sách mô tả rất chi tiết những mưu mô của Mao. Nhưng, đại tá Tân Tử Lăng cho rằng nếu như người dân có tiếng nói, các thiết chế đảng và nhà nước có tiếng nói, những người có lương tri nói lên sự thật với Mao không bị quy kết là “chống Đảng” thì Mao không thể gây ra những tội ác đau thương cho nhân dân, cho đồng chí của mình như thế. Thật cay đắng khi theo đại tá Tân tử Lăng, chỉ khi “vị cứu tinh” chết đi nhân dân Trung Quốc mới có đường để sống. Những cải cách mà Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đặng Tiểu Bình khởi xướng là thực hiện lại một phần những gì mà người dân Trung Hoa đã có từ trước ngày 1-10-1949. Đại tá Tân Tử Lăng lý giải: “Chỉ cần trả lại quyền lợi và tự do cho nhân dân, tự họ sẽ lựa chọn con đường phát triển và sáng tạo tương lai xán lạn”.

Cuốn sách được xuất bản tháng 7-2007 và tái bản tháng 6-2008 tại Hong Kong, nhưng đã gây chú ý đặc biệt và gây tranh cãi trong người dân Đại lục. Có lẽ vẫn có những người dân Trung Quốc ngưỡng mộ Mao; có lẽ vì hơn 60 năm qua họ đã được dạy Mao là người vĩ đại; có lẽ họ không muốn phủ nhận chính họ vì một thời họ đã tôn sùng Mao, đã trở thành Hồng vệ binh gây nhiều tội ác. Nhưng, có lẽ, cũng có nhiều người Trung Quốc tự hỏi, nếu như không có ngày 1-10-1949, Trung Quốc có phải trải qua 3 thập kỷ địa ngục như vậy không. Lịch sử không có chữ “nếu”, cho dù có ai đó đang nghiên cứu về con đường mà Việt Nam lẽ ra đã đi nếu như Mao không nắm quyền kể từ năm 1949.

Nghe nói Thông Tấn Xã Việt Nam mới cho dịch và xuất bản cho các cơ quan, đơn vị cuốn sách của Đại tá Tân Tử Lăng. Mục tiêu của Thông tấn Xã Việt Nam thường không phải kinh doanh. Hy vọng là đã có nhiều người Việt Nam đọc được.

Huy Đức điểm sách

Categories: Sưu tầm

Trời mưa nói chuyện ma

Tháng Chín 10, 2009 Để lại phản hồi

haiduabe Cứ mỗi lần mưa bão ập về, tôi lại nhớ đến rất nhiều thứ, rất nhiều chuyện muốn nói về những ký ức đã trôi xa, cũng như những hiện tại mà tôi đang có. Mưa mang đến niềm vui cho nông dân, cho cây lá tốt tươi, nhưng mưa cũng mang đến biết bao thảm cảnh cho không ít người, nhất là những ngày qua, vừa mưa, vừa gió, vừa bão quay quắt đổ xuống mọi miền khiến ai nấy đều khốn đốn.

Đối với phố phường thành thị thì mưa gió cũng không ảnh hưởng gì cho nhịp sống vui chơi lắm, chẳng qua chỉ là “phố bỗng là dòng sông uốn quanh” mà thôi, ngập nước nên đi lại hơi khó khăn tí xíu, nhưng người ta vẫn đi, vẫn chơi, vẫn yêu, có thể là yêu nhau trong mưa càng thi vị hơn chút nữa đấy, nhưng đối với những vùng vùng ven đô hay vùng quê thì lại khác. Ở một thị trấn nhỏ như chỗ tôi đây thì mưa gió tạo nên một sự im lặng khác thường, tám giờ tối đường sá vắng tanh, mấy chiếc xe bán bánh mì ủ rũ che mưa chắn gió một lúc rồi lặng lẽ cuốn gói đi về, mấy gánh cháo vịt đầu đường cũng dồn vào hiên nhà ai đó núp, than vắn thở dài rồi cũng lặng lẽ ra về, trong nước mưa có lẫn nước mắt, ngày mai họ phải mang thêm một món nợ nữa vì hôm nay bán ế. Anh xe ôm cố chờ thêm một lúc để xem có ai muốn đi đâu đó trong mưa không, rồi vì nhìn quanh quẩn phố xá vắng tanh, trời lại lạnh, nên anh cũng ra về trong tiếng thở dài, giá xăng thì cao, khách thì hiếm, hôm nay chắc tiền kiếm được mấy cuốc xe ban ngày chỉ đủ tiền xăng. Chị vợ định dành dụm ít tiền may chiếc áo mới cho con vì gần đến ngày khai trường cũng phải tạm giấu ước mơ này trong khóe mắt rưng rưng ngấn lệ.

Read more…

Categories: Sưu tầm

Hai lần một mình dưới mưa

Tháng Chín 10, 2009 1 comment

hailan Đẹp…

Hồi ấy mình còn là sinh viên, khoảng thời gian quá đẹp trước ngày giải phóng ấy mà, tuy chẳng được bao lâu nhưng cũng có rất nhiều điều đáng nhớ. ĐH Khoa Học Tự Nhiên bây giờ trước đây có tên là Faculty of Science, trực thuộc Viện Đại Học Sài Gòn, nằm trên đường Cộng Hòa (nay đổi thành Nguyễn Văn Cừ hay gì gì đó) mình nhớ ở số 227 thì phải, mấy chục năm chưa về thăm trường, nhưng vẫn nhớ cái giảng đường nằm bên tay phải cạnh cổng ra vào là nơi mình vẫn thường học Toán với thầy Nguyễn Đình Ngọc, Nguyễn Văn Kỷ Cương…, phòng TP Lý, TP Hóa… mới hỏi lại bọn trẻ nó bảo phòng TP Hóa bây giờ vẫn vậy bác à! Nhớ lắm, nhớ ghê lắm… Phía trên là Trường Pétrus Ký (Lê Hồng Phong) phía dưới là Đại Học Sư Phạm, còn phía trước mặt là một khoảng tường xây, phía trên giăng hàng rào kẽm gai dài ngoằng kéo dài từ Ngã Sáu cho đến đường Nguyễn Trãi, trực thuộc Tổng Nha Cảnh Sát cũ thì phải, và cái khoảng tường quét vôi màu vàng ấy chính là cái điều mình muốn nói trong cái entry này.

Read more…

Categories: Sưu tầm

Níu kéo thời gian

Tháng Chín 10, 2009 Để lại phản hồi

clockimg Ai đó bảo rằng: “Nếu có ước muốn trong cuộc đời này, sẽ mãi ước muốn cho thời gian trở lại…” thì tôi cũng thế, dù biết chắc rằng thời gian làm sao trở lại được? Thế thì ta phải níu kéo nó bằng nhiều cách, để thực hiện được những mơ ước trong ta, cho dù cái thời gian ấy không còn nữa.

Như là một định luật, thời gian tuân theo vòng xoay của tạo hóa mà không thể nào cho người ta níu kéo lại, nói như thế để những ai đang hưởng trọn những phút giây tuyệt vời của cuộc đời mình hôm nay, phải biết gìn giữ, trân trọng và quyết thực hiện cho được hoài bão của mình, đừng để thời gian từ từ trôi qua một cách nhạt nhẽo và vô vị, để rồi không thể nào níu kéo lại được như tôi, một ông già U-50 với những lo toan bộn bề tương lai, quá khứ, con cháu, trường đời, sự đời và kể cả nợ đời…

Những biến động của xã hội và thời cuộc đã đẩy không biết bao nhiêu con người, bao nhiêu hoàn cảnh phải rủ bỏ ước mơ của mình khi trên mặt còn chưa có vết nhăn, khi tình yêu chưa kịp kết thành trái nụ, khi đũng quần chưa kịp quen hơi chiếc ghế trên giảng đường, thế mà vẫn phải rủ bỏ, vì cuộc sống. Nói ra điều này có vẻ bi quan, nhưng cách đây hơn ba chục năm thì đó là sự thật, một sự thật khiến ta có thể trào nước mắt.

Read more…

Categories: Sưu tầm

Về nghề báo…

Tháng Chín 8, 2009 1 comment

vietlach 1. Nghề báo trước hết là một nghề. Tôi không ưa dùng từ “cao quý” cho một nghề nào đó, nếu như em cũng đồng ý với tôi rằng mọi nghề nghiệp lương thiện đều cao quý như nhau. Như mọi nghề nghiệp khác mà em biết, ta kiếm sống bằng công việc đó. Nghề báo nuôi sống ta bằng lương và nhuận bút. Và cũng như mọi nghề nghiệp khác, ta phải làm công việc của mình với hết năng lực và trách nhiệm để không hổ thẹn với đồng lương nhận được.

Vì sao tôi nhắc đến nhuận bút trước hết. Bởi vì việc chúng ta được trả tiền cho những gì chúng ta viết sẽ khiến ta tỉnh táo, và không cho rằng mình đang làm một công việc cao quý hơn nhiều nghề khác trong xã hội. Và vì niềm vui mỗi khi lãnh nhuận bút cho một bài báo là niềm vui không bao giờ cũ. Từ một cái tin nhỏ đầu tiên cho đến bài báo cuối đời, khi niềm vui đó còn tồn tại nghĩa là em còn tự hào vì mình nhận được thành quả xứng đáng từ công sức của chính mình. Một người làm báo chính trực luôn trân trọng từng đồng nhuận bút, bởi đó sẽ là nguồn thu nhập duy nhất nếu anh ta quyết dành cả đời mình chỉ để làm báo.

Read more…

Categories: Sưu tầm

Tôi đi học

Tháng Chín 7, 2009 4 comments

hchup13 Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.
Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.
Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.
Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.
Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quý và không ra đồng nô hò như thằng Sơn nữa.
Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn.
Dọc đường tôi thấy mấy cậu nhỏ trạc bằng tôi, áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem mà tôi thèm. Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng. Tôi bặm tay ghì thật chặt, nhưng một quyển vở cũng chì ra và chênh đầu chúi xuống đất. Tôi xóc lên và nắm lại cẩn thận. Mấy cậu đi trước o sách vở thiệt nhiều lại kèm cả bút thước nữa. Nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hết. Read more…

Categories: Tư liệu Thẻ:

Sự lầm lẫn về mục tiêu của giáo dục

Tháng Chín 7, 2009 2 comments

trithuc Mục tiêu của giáo dục không phải hướng đến việc ban phát bằng cấp cho người học. Mục tiêu của giáo dục là cung cấp tri thức, các kỹ năng hành xử và tư duy cũng như những phương cách nhằm phát triển năng lực riêng có của mỗi cá nhân. Từ đó, họ có thể trở thành một công dân có ích.

Vì vậy trong nghiên cứu xã hội học giáo dục, người ta đánh giá thành quả của giáo dục không chỉ qua bằng cấp hay số năm theo học tại trường mà còn là đánh giá “năng lực giáo dục” của mỗi người. Nghĩa là người ta xem con người có làm được những điều tương xứng với số năm đi học hay bằng cấp mà họ đã đạt được hay không. Sự lầm lẫn về mục tiêu của giáo dục đã tạo ra khuynh hướng chạy đua theo bằng cấp hết sức tai hại mà hiện chúng ta đang phải chứng kiến với những biến thể rất đau lòng.

Bên cạnh đó, giáo dục nước ta có một nghịch lý là hễ cứ đậu đầu vào thì chắc chắn phải có đầu ra. Vì vậy những cuộc thi đầu vào luôn rất chặt chẽ trong khi thi đầu ra lại nhẹ nhàng. Điều này dẫn đến suy nghĩ ai không tốt nghiệp đại học được, không qua được các kỳ thi đầu ra là điều gì đó rất bất thường. Vì cho đó là bất thường nên nhiều người học khó chấp nhận hay không thể chấp nhận việc không qua được các kỳ thi đầu ra và nghĩ chắc mình bị trù dập hay ghét bỏ mới như thế. Từ đó dẫn đến những cách hành xử cực đoan. Read more…

Categories: Sưu tầm Thẻ:

Sao cứ phải là đại học?

Tháng Chín 7, 2009 2 comments

phaivaodh Ngày nay, không ít người đang cố tình chạy theo hư danh, chạy theo các giá trị ảo vì chính họ cũng đang ảo tưởng về mình. Người thành đạt không chỉ căn cứ vào bằng cấp mà chủ yếu thông qua hoạt động thực tiễn, thông qua giá trị thực chính họ tạo nên cho xã hội. Xã hội sẽ không bao giờ chỉ đánh giá con người qua bằng cấp nếu sống thật với con người mình. Nếu biết mình đang là ai, như thế nào và đang ở đâu thì chúng ta có thể làm chủ hành vi để thành công và hạnh phúc, để tự hào và mãn nguyện với giá trị thật của mình.

Có thể nói việc đất nước có nhiều người trình độ đại học là thông tin đáng vui nhưng sẽ vui hơn, sẽ ít có những nỗi buồn bất chợt hơn, sẽ ít có những hành vi nông nổi hơn khi tấm bằng đại học không trở thành một giá trị đầy áp lực có thể chứa đựng nhiều khủng hoảng và đắng cay.

Tại sao nhiều người quá căng thẳng để tìm đường vào đại học bằng mọi giá như thế? Tại sao tấm bằng đại học hấp dẫn người ta đến thế?

Nhầm lẫn việc học với tấm bằng

Một xã hội coi trọng việc học là xã hội văn minh, học là con đường duy nhất để có thể tiến bộ không ngừng và thành công, hạnh phúc. Một xã hội học tập đang được phát động và được công chúng ủng hộ, nhưng nhiều người nhầm lẫn việc học với việc phải có được tấm bằng. Sự nhầm lẫn đáng tiếc này có thể có nhiều nguồn gốc, nhưng có điều ai cũng biết ngày nay nếu không có bằng cấp thì rất khó xin được việc làm, đôi khi kể cả một công việc không cần bằng cấp. Read more…

Categories: Sưu tầm Thẻ:,